Để phân biệt hai loài thân thuộc (có quan hệ hàng gần gũi) chúng ta có thể căn cứ vào nhiều tiêu chuẩn khác nhau như : tiêu chuẩn hình thái, tiêu chuẩn địa lí, sinh thái, tiêu chuẩn sinh lí - hoá sinh, tiêu chuẩn về di truyền.
- Tiêu chuẩn hình thái : Giữa hai loài khác nhau thường có sự gián đoạn về một số tính trạng nào đó. Giữa loài rau dền gai (thân có gai) với loài rau dền cơm (thân không có gai) không có dạng trung gian từ ít gai đến nhiều gai.
Tuy nhiên, người ta đã gặp những loài khác nhau nhưng có hình thái giống hệt nhau, được gọi là những loài sinh đôi hay đồng hình. Dòng muỗi Anôphen ở châu Âu có 6 loài giống nhau, chỉ khác nhau về màu sắc trứng, sinh cảnh, có đốt người hay không, có truyền bệnh sốt rét hay không. Ở chim, số loài số loài đồng hình chiếm tới 5%. Ở thú chiếm 10%.
- Tiêu chuẩn địa lí, sinh thái : Đơn giản là mỗi loài có một khu vực phân bố riêng về mặt địa lí. Ngựa hoang phân bố ở vùng Trung Á, ngựa vằn sống ở châu Phi. Tuy nhiên, đối với những loài phân bố toàn cầu thì đặc trưng về địa lí, sinh thái không còn ý nghĩa.
Trường hợp phức tạp hơn là hai loài thân thuộc có khu vực phân bố trùng nhau một phần hoặc hoàn toàn, trong đó mỗi loài thích nghi với những điều kiện sinh thái khác nhau. Ở bang Tếchdát, Hoa Kì, có 40 loài ruồi giấm cùng sống trong một khu vực mà không có dạng lai.
- Tiêu chuẩn sinh lí - sinh hoá : prôtêin tương ứng ở các loài khác nhau được phân biệt ở một số đặc tính vật lí (giới hạn chịu nhiệt ...), hoá sinh (trình tự axit amin....). Tuy nhiên, sự tổng hợp một số axit amin như histidin, arginin được thực hiện rất giống nhau ở những loài rất xa nhau, trong khi đó sự tổng hợp lizin lại diễn ra hoàn toàn khác nhau ở những loài động vật thân thuộc. Giữa các nhóm máu của người không có các dạng trung gian, song không vì thế mà người ta xem những người cùng nhóm máu là thuộc cùng một loài.
- Tiêu chuẩn di truyền hay cách li sinh sản : cái cốt lõi của tiêu chuẩn này là mỗi loài có một bộ NST đặc trưng về số lượng, hình thái, và sự phân bố gen trên NST. Giữa 2 loài khác nhau có sự cách li sinh sản, cách li di truyền, biểu hiện ở nhiều mức độ, từ khâu giao phối đến thụ tinh, phát triển của hợp tử, phát triển của con lai, khả năng sinh sản của con lai ...
Tiêu chuẩn di truyền thường được xem là tiêu chuẩn chủ yếu nhất, nhất là đối với những loài giao phối. Tuy nhiên, tiêu chuẩn này cũng chỉ có giá trị tương đối. Nhiều loài khác nhau không giao phối trong trạng thái tự nhiên nhưng có thể giao phối với nhau khi bắt buộc. Một số loài trong chi Vịt (Anas) có thể giao phối với nhau sinh những con lai hữu thụ. Ở thực vật có những trường hợp lai khác chi, khác họ.
Những điều nói trên đây cho thấy việc xác định loài của các nhà phân loại học rất phức tạp. Thường phải vận dụng phối hợp nhiều tiêu chuẩn, tuy rằng trong thực tế với mỗi nhóm loài có thể vận dụng tiêu chuẩn này hay tiêu chuẩn khác là chủ yếu.
| Comments |
|
3.26 Copyright (C) 2008 Compojoom.com / Copyright (C) 2007 Alain Georgette / Copyright (C) 2006 Frantisek Hliva. All rights reserved."
| < Lùi | Tiếp > |
|---|
- Quy tắc số T (total) - Nhân dạng nhanh phép lai chi phối
- Di truyền học người
- Ứng dụng di truyền học vào chọn giống
- Di truyền quần thể
- Ôn tập Sinh học 12 theo bài (Chương 2)
- Ôn tập Sinh học 12 theo bài (Chương 1)
- Sự phát triển của sinh giới qua các đại địa chất
- Nguồn gốc sự sống trên Trái Đất
- Chiều hướng tiến hoá
- Nguồn gốc chung và chièu hướng tiến hoá của sinh giới
- ADN và mARN có những điểm nào giống và khác nhau về cấu trúc
- Tại sao nói ADn là cơ sở vật chất và cơ chế di truyền ở cấp độ phân tử ?
- Các dạng đột biến gen
- Các bệnh di truyền về Hêmôglôbin
- Cơ sở để nhận biết các dạng đột biến cấu trúc NST
- Các dạng tương tác gen, các tỷ lệ thường gặp trong tương tác gen
- Lặp gen hình thành gen mới
- Lại giống
- Di truyền học Người - Các phương pháp nghiên cứu di truyền học người
- Tư vấn di truyền y học (Medical genetic counseling)
Các tiêu chuẩn phân biệt hai loài thân thuộc





