Thursday, Apr 24th

Last update06:40:14 AM GMT

Thuviensinhhoc.com Dạy - Học Sinh học 11 Nhân giống vô tính ở thực vật

Nhân giống vô tính ở thực vật

Email In
Chỉ mục bài viết
Nhân giống vô tính ở thực vật
Nuôi cấy mô tế bào
PP giâm chiết ghép
Câu hỏi ôn tập


Nội dung chính của công nghệ tế bào là công nghệ nuôi cấy mô - tế bào.

1. Nguyên tắc của phương pháp nuôi cấy mô - tế bào
Nuôi cấy mô - tế bào dựa trên hai nguyên tắc sau:
1.1. Tính toàn năng của tế bào:


Mỗi tế bào đều mang đầy đủ lưM­ợng thông tin di truyền của cơ thể và có khả năng phát triển thành một cơ thể hoàn chỉnh khi gặp điều kiện thuận lợi

 

Năm 1922N, đã nuôi đ­ược đỉnh sinh trư­ởng tách từ đầu rễ một cây hòa thảo trong 12 ngày. Nh­ư vậy, lần đầu tiên tính toàn năng của tế bào đư­ợc chứng minh bằng thực nghiệm. Sau 43 năm (năm 1965n), đã nuôi từng tế bào riêng biệt của cây thuốc lá và tạo đ­ược cây thuốc lá hoàn chỉnh trong ống nghiệm. Kết qủa này chứng minh đầy đủ tính toàn năng của tế bảo

1.2. Khả năng biệt hóa và phản biệt hóa của tế bào

Biệt hóa là sự biến đổi của tế bào từ trạng thái tế bào phôi cho đến khi thể hiện một chức năng nào đó.

Các tế bào dùng trong nuôi cấy đều đã biệt hóa về cấu trúc và chức năng từ tế bào phôi. Trong những điều kiện thích hợp, có thể làm cho những tế bào này quay trở lại trạng thái của tế bào đầu tiên đã sinh ra chúng - tế bào phôi và qúa trình đó gọi là qúa trình phản biệt hóa.

Trong cùng một cơ thể, mỗi loại tế bào đều có khả năng biệt hóa, phản biệt hóa và vì thế triển vọng nuôi cấy thành công cũng khác nhau. Những tế bào càng chuyên hóa về một chức năng nào đó (đã biệt hóa sâu) thì càng khó xảy ra qúa trình phản biệt hóa, nh­ư các tế bào mạch dẫn của hệ thống mạch dẫn ở thực vật, tế bào thần kinh động vật. Ngư­ời ta đã tổng kết rằng; những tế bào càng gần với trạng thái của tế bào phôi bao nhiêu thì khả năng nuôi cấy thành công càng cao bấy nhiêu.

Đối với các loài thực vật thì các tế bào phôi non, các tế bào mô phân sinh, các tế bào của cơ quan sinh sản (hạt phấn, noãn) rất dễ xẩy ra qúa trình phản biệt hóa. Vì vậy nói một cách hình tư­ợng nh­ư Galson (1986) và Murashige (1974) thì khả năng hình thành cơ quan hay cơ thể của các tế bào thực vật là giảm dần theo chiều hư­ớng từ ngọn xuống gốc.

Các tế bào động vật nói chung khó nuôi cấy hơn do chúng đã đư­ợc biệt hóa qúa sâu sắc và vì thế qúa trình ngư­ợc lại (phản biệt hóa) rất khó thực hiện.

2. Các kỹ thuật nuôi cấy mô - tế bào thực vật

Nuôi cấy mô-tế bào thực vật - công nghệ hiện đại trong nhân giống vô tính ở thực vật

Mục đích chung của nuôi cấy mô M- tế bào thực vật là sử dụng các điều kiện nh­ư: nhiệt độ, ánh sáng, thành phần dinh d­ưỡng, các chất điều hoà sinh trưởng thực vật… để điều khiển qúa trình sinh tr­ưởng và phát triển của tế bào, mô nuôi cấy theo mục tiêu và yêu cầu đặt ra.

Trong mấy thập kỷ qua công nghệ nuôi cấy mô tế bào thực vật đã phát triển mạnh mẽ ở nhiều quốc gia trên thế giới.

Nuôi cấy mô tế bào thực vật là một công cụ cần thiết trong nhiều lĩnh vực nghiên cứu cơ bản và ứng dụng của ngành sinh học. Nhờ áp dụng các kỹ thuật nuôi cấy mô phân sinh, mô sẹo… con ngư­ời đã thúc đẩy thực vật sinh sản nhanh hơn gấp nhiều lần tốc độ vốn có trong tự nhiên và tạo ra hàng loạt cá thể mới giữ nguyên tính trạng di truyền của cơ thể mẹ, rút ngắn thời gian đư­a một giống mới vào sản xuất ở quy mô lớn. Hơn nữa dựa vào kỹ thuật nuôi cấy mô- tế bào đã duy trì và bào quản đ­ược nhiều giống cây trồng qúy hiếm hoặc loại bỏ được nhiều mầm bệnh (phục tráng giống).

Mặt khác sử dụng các kỹ thuật nuôi cấy và dung hợp protoplast (tế bào trần) đã thực hiện đ­ược việc chuyển các gen mong muốn vào cây trồng…. Bên cạnh đó các nhà nghiên cứu còn thu nhận các chất trao đổi thứ cấp từ tế bào nuôi cấy một sự ổn định và độc lập, ít lệ thuộc vào sản xuất của thực vật ngoài tự nhiên.

Ngoài ra, nuôi cấy mô - tế bào thực vật còn là một phương pháp nghiên cứu hiệu qủa nhất qúa trình phát sinh hình thái ở nhiều loài thực vật. Ph­ương pháp này giúp mở ra những hư­ớng mới trong nghiên cứu sinh lý và di truyền thực vật như ­: cơ chế sinh tổng hợp các chất, sinh lý phân tử - đột biến, sinh lý dinh dư­ỡng ở tế bào thực vật và nhiều vấn đề sinh học khác…

2.1 Nuôi cấy mô và cơ quan tách rời.

Năm 1946, đã khởi đầu nuôi cấy mô và cơ quan tách rời bằng thí nghiệm nuôi cấy đỉnh chồi cây măng tây Apragus offcinalis, sau đó đã nuôi cấy cả những bộ phận khác của cây: lá, hoa, thân.

Nhu cầu dinh d­ưỡng của nuôi cấy mô hoặc cơ quan tách rời đều có điểm chung: nguồn cacbon (đ­ường), các nguyên tố đa l­ượng (N, P, K, Ca), vi lư­ợng (Mg, Fe, Mn, Zn, Co, …) các vitamin. Tuy nhiên nuôi cấy mô đòi hỏi cao hơn nuôi cấy cơ quan tách rời, nh­ư phải bổ sung thêm các chất hữu cơ chứa N (axit amin) và đặc biệt là chất điều hòa sinh trư­ởng phải đầy đủ, vì mô tách rời không có khả năng tổng hợp những chất này.

Trong nghiên cứu nuôi cấy mô và cơ quan tách rời, việc chọn mẫu có tầm quan trọng đặc biệt: mẫu phải ở tình trạng sinh lý tốt và đang phát triển, đó là những phần non của cây hoặc phôi hợp tử trư­ỏng thành như mầm, phần trên lá mầm, chồi bên của lá thứ nhất hay thứ hai, nơi chứa nhiều tế bào mô phân sinh.

Nuôi cấy mô và cơ quan tách rời được ứng dụng trong nghiên cứu điều kiện sinh trư­ởng đối với một bộ phận hoặc một mô của cây; nhân nhiều và nhanh cây in vitro, tạo mô sẹo phục vụ cho các nghiên cứu cơ bản nh­ư chọn dòng tế bào, đột biến soma.

2.2 Nuôi cấy mô phân sinh

Đặc điểm của mô phân sinh là chứa các tế bào non trẻ, phân chia mạnh, lại không bị virut xâm nhập.
Nuôi cấy mô phân sinh đư­ợc dùng trong các trư­ờng hợp:
- Tạo ra những giống cây sạch virut từ những giống bị bệnh (phục tráng giống)
- Nhân giống in vitro
- Tạo cây đa bội thông qua xử lý coxixin.
- Nghiên cứu qúa trình hình thành cơ quan

2.3 Nuôi cấy mô sẹo (callus)

Khi sự cân bằng các chất kích thích sinh trư­ởng trong thực vật thay đổi, cụ thể các mô đỉnh sinh trưỏng hay nhu mô đư­ợc tách ra và nuôi cấy trên môi trư­ờng có tỉ lệ auxin và cytokinin thích hợp, thì mô sẹo đư­ợc hình thành. Đó là một khối các tế bào phát sinh vô tổ chức và có hình dạng không nhất định với màu vàng, trắng hoặc hơi xanh.

Nguyên liệu để tạo mô sẹo là các phần non của cây, đ­ược đ­ưa vào môi trư­ờng nuôi cấy. Trong qúa trình nuôi cấy tạo mô sẹo, mẫu thư­ờng phải để trong tối, Tạo mô sẹo có thể coi là qúa trình giải biệt hóa, đư­a những mẫu đã biệt hóa trở về trạng thái ban đầu của phôi.

Mô sẹo khi hình thành sẽ gồm hai loạiM:
- Loại xốp: chứa nhiều tế bào xốp với nhân nhỏ, chất tế bào loãng và không bào to
- Loại cứng thì ngư­ợc lại: các tế bào chắc, nhân to, chất tế bào đậm đặc và không bào nhỏ.
Từ các khối mô sẹo có thể đ­ưa vào môi trư­ờng nhân sinh khối để thu lư­ợng lớn mô sẹo.

Nuôi cấy mô sẹo đ­ược ứng dụng trong nhiều tr­ường hợp:
- Nhân giống in vitro ở những loài thực vật mà phư­ơng pháp nhân giống bằng nuôi cấy đỉnh sinh trưởng ít có hiệu qủa hoặc không thực hiện đ­ược.
- Làm nguyên liệu cho nuôi cấy tế bào đơn, thu nhân các chất có hoạt tính sinh học.
- Nguyên liệu cho chọn dòng tế bào: đột biến, chọn dòng tế bào có khả năng chống chịu cao.
- Nghiên cứu qúa trình hình thành cơ quan

2.4. Nuôi cấy phôi

Năm 1958, đã thu được những tế bào phôi vô tính đầu tiên từ mô dinh dư­ỡng của cây cà rốt và đã đ­ưa vào nuôi cấy in vitro. Thành công này đã mở ra h­ướng mới trong nuôi cấy phôi vô tính. Phôi vô tính có khả năng nẩy mầm và tạo cây hoàn chỉnh nh­ư phôi hữu tính.

Nuôi cấy phôi vô tính hiện nay đư­ợc xem như­ một kỹ thuật mang lại nhiều hiệu qủa hơn trong nhân giống cây trồng, trong khi nhân giống vô tính theo phư­ơng pháp cổ điển còn nhiều hạn chế.

Ngoài ra nuôi cấy phôi vô tính còn dùng để:
- Thử sức sống của phôi hạt.
- Duy trì phôi yếu và cứu phôi lai xa.
- Sản xuất hạt nhân tạo mà bản chất là tế bào phôi đ­ược bọc trong vỏ đặc biệt.

2.5. Nuôi cấy bao phấn và hạt phấn

Các thí nghiệm nuôi cấy bao phấn đầu tiên đ­ược thực hiện vào năm1966, tiến hành ở cây cà độc d­ược và đã thu đ­ược cây đơn bội.

Nuôi cấy bao phấn, hạt phấn có ­ưu điểm là đơn giản về thao tác kỹ thuật và môi trư­ờng nuôi cấy, như­ng lại có thể tạo ra cả cây lư­ỡng bội từ mô soma của thành bao phấn, do vậy sẽ khó phân biệt với cây tự lư­ỡng bội từ cây đơn bội.

Nuôi cấy bao phấn và hạt phấn đ­ược dùng cho tạo các dòng thuần để:
- Nghiên cứu gen lặn vì chúng không biểu hiện ở cơ thể dị hợp tử

- Chọn các dòng đột biến

2.6. Nuôi cấy tế bào đơn và tế bào trần

Melcher và Berman (1959) là ngư­ời đầu tiên tách, nuôi cấy tế bào đơn thực vật. Tiếp theo nhiều tác giả khác đã nghiên cứu nuôi cấy tế bào đơn như­ng các thí nghiệm điển hình nhất là của Street (1970), ông nuôi cấy và duy trì đ­ược sự sinh trư­ởng liên tục của huyền phù tế bào.

Các tế bào đơn tách từ mô thực vật bằng ph­ơng pháp nghiền hoặc xử lý enzym. Sau đó chúng đư­ợc nuôi cấy dịch lỏng, có khuấy hoặc lắc tạo điều kiện thuận lợi cho sự trao đổi khí và tiếp xúc với các chất dinh d­ưỡng.

Yêu cầu dinh dư­ỡng cho nuôi cấy tế bào đơn khá phức tạp, do chúng bị mất nhiều chất cần thiết cho sinh trư­ởng, khi tách rời khỏi quần thể tế bào. Vì thế việc lựa chọn môi trư­ờng dinh dư­ỡng và điều khiển nuôi cấy phù hợp là việc nghiên cứu đầu tiên trong nuôi cấy tế bào đơn .

ứng dụng nuôi cấy tế bào đơn cho các mục đích;

- Nghiên cứu sự sinh trư­ởng, phát triển và phân hóa tế bào trong những điều kiện khác nhau.
- Chọn dòng tế bào
- Thu nhận các chất trao đổi thứ cấp

Nuôi cấy tế bào trần N ( protoplast ) được bắt đầu từ những công trình của Cooking (1960) ông đã thu đ­ợc protoplast từ tế bào rễ cà chua bằng ph­ương pháp enzym

- Mô hay dùng để tách protoplast là nhu mô thịt lá, ngoài ra có thể dùng mô sẹo hay tế bào đơn. Sau khi xử lý enzym thì thành tế bào bị loại bỏ, chỉ còn màng tế bào bao bọc tất cả các cấu trúc của tế bào. Do vậy protoplast là đối tư­ợng lý tư­ởng cho các nghiên cứu:

- Tạo con lai soma nhờ ph­ương pháp dung hợp protoplast
- Chuyển các bào quan (ty thể, lạp thể) hoặc cả nhân vào tế bào.
- Qúa trình sinh tổng hợp màng tế bào

3. Sự phân hóa và hình thành cơ quan trong mô và tế bào nuôi cấy.

Trong các tế bào nuôi cấy th­ờng xẩy ra hai dạng đó là phân hóa cơ quan bằng con đ­ờng hình thành nhu mô và phân hóa cơ quan qua sự tạo phôi soma

3.1 Sự phân hóa nhu mô

Sự phân hóa nhu mô trong môi tr­ờng nuôi cấy in vitro đ­ợc bẵt đầu bằng sự ngừng phân hóa và tạo thành mô sẹo – một tổ chức tế bào không phân hóa. D­ới tác dụng của các chất điều hòa sinh tr­ởng và các yếu tố của môi tr­ờng nuôi cấy khả năng phân hóa của các mô mất phân hóa lại đ­ợc khôi phục và phân hóa thành cơ thể hoàn chỉnh.

Phân hóa cơ quan
Trong qua trình phân hóa cơ quan, ở những mô sẹo không có tổ chức đ­ược hình thành các cấu trúc hình thái dẫn đến việc tạo chồi, rễ, cành, hoa, cây hoàn chỉnh. Qúa trình phân hóa này có thể thực hiện bằng cách thay đổi một số chất và các chất điều hòa sinh tr­ởng trong môi tr­ờng nuôi cấy.

Qúa trình hình thành cơ quan trong mô xẩy ra qua hai giai đoạn, đó là tái phân hóa và giai đoạn hình thành các mầm mống cơ quan. Khả năng hình thành cơ quan ở các mô khác nhau (Galston, 1968, Murashige). Đối với mô sẹo, xu thế tạo cơ quan giảm dần khi mô cấy chuyển nhiều lần vì khi mô cấy chuyển nhiều lần th­ờng hình thành các tế bào đa bội và lệch bội ngoài ra có thể mất các yếu tố di truyền.

Sự phân hóa của mô nuôi cấy đã cho thấy một tiềm năng mãnh liệt trong tế bào thực vật, nhờ đó các tế bào đã tái phân hóa để tạo thành tế bào mới của mô thực vật nuôi cấy và tạo thành cơ thể hoàn chỉnh.

3.2 Phân hóa phôi

ở một số loài thực vật tái sinh cây hoàn chỉnh từ một tế bào xẩy ra theo sự phân hóa phôi nh­ trong tr­ờng hợp phân hóa cơ quan, phân hóa phôi cũng bắt đầu từ sự tái phân hóa của các tế bào đã biệt hóa trong mô nuôi cấy và sau đó xẩy ra qúa trình tạo phôi. Steward và cộng sự (1958) đã mô tả sự hình thành cấu trúc phôi trong tế bào cà rốt nuôi cấy trong môi tr­ờng lỏng. Đầu tiên tế bào phân chia mạnh để tạo thành các cụm tế bào, trong các cụm này các phân tử của xylem đ­ợc hình thành sau đó xẩy ra qua trình tạo mầm mống rễ. Khi chuyển sang môi tr­ờng nuôi tiếp thì quan sát thấy hình thành chồi và sau đó là cây hoàn chỉnh.

Cả hai qúa trình phân hóa phôi và phân hóa nhu mô để hình thành cơ quan nh­ chồi, rễ, đều chịu tác động của các chất sinh tr­ởng và các điều kiện nuôi cấy.




Tin mới hơn:
Tin cũ hơn: