Tiếp hợp được gán cho các kiểu yếu tố di truyền nhất định, cụ thể là các plasmid. Việc truyền plasmid từ thể cho sang thể nhận không đòi hỏi DNA của plasmid để tái tổ hợp với DNA của thể nhận. Tiếp hợp là có tính bảo tồn - thể cho vẫn giữ lại bản sao của plasmid sau khi truyền đi, điều đó chỉ ra rằng sự tái bản của plasmid xảy ra trong khi tiếp hợp.
Sự tái bản plasmid đòi hỏi phải có một "cầu tiếp hợp" (mating bridge) giữa các tế bào cho và nhận. Đó là vùng tiếp xúc giữa các tế bào này, trong đó DNA được truyền qua một cái lỗ. Như vậy, trước khi cầu tiếp hợp có thể hình thành, thể cho phải nhận biết tế bào nhận và phải tiếp xúc với thể nhận. Hai sự kiện này không nhất thiết xảy ra đồng thời.
Có nhiều gene được cần đến cho tiếp hợp. Chẳng hạn, đối với plasmid TiC58 các trb operon mã hoá cho các sản phẩm gene cần thiết để nhận biết thể nhận và bắt cặp (giao phối). Các gene trong cụm phức hợp này mã hoá cho sợi lông giới tính (sex pilus), yếu tố thiết yếu cho tiếp hợp. Lông giới tính có thể rất dài (ví dụ lông sinh ra bởi plasmid F) hoặc rất ngắn (ví dụ lông sinh ra bởi plasmid RP4). DNA không phải được truyền qua lông giới tính. Mặc dù thể nhận còn chưa biết về plasmid tiếp hợp bất kỳ nào, nhưng sợi lông giới tính là cần cho việc nhận biết tế bào thể nhận. Các plasmid tương tự F mã hoá cho các lông gấp nếp (flexous pili) bắt cặp tốt trong môi trường lỏng, nhưng các plasmid mã hoá cho các lông ngắn cứng (short stiff pili) thường bắt cặp chỉ trong bề mặt đặc. Sự tiếp xúc như sau, sợi lông dài gấp nếp của F hoạt động như một chiếc motor co rút - các tế bào cho và nhận được kéo lại gần nhau khi các tiểu đơn vị của sợi lông khử polymer thành ra màng tế bào chất của các tế bào cho. Ngược lại, bản chất co rút của các sợi lông khác vẫn chưa được xác định.
Các tra operon mã hoá các sản phẩm gene cần cho các chức năng tái bản DNA. Sự tái bản DNA đòi hỏi nhiều bước.
- Khởi đầu tái bản vòng lăn (rolling circle replication) hay tái bản sigma (σ replication) đòi hỏi phải đứt sợi ở DNA của plasmid đóng vòng. DNA plasmid bị đứt tại một vị trí tác động cis đặc thù (specific cis-acting site) gọi là nic bên trong khởi điểm của đoạn truyền (oriT). Enzyme thuỷ phân làm đứt đó được gọi là "nickase" hay "strand transferase". Để làm đứt DNA, nickase vẫn giữ sự kết dính đồng hoá trị nhóm 5' phosphate, để lại nhóm 3'OH tự do. Các protein hỗ trợ tạo thuận lợi cho nickase bám vào oriT, và phức hợp này được gọi là "relaxosome" (thể giãn xoắn).
- Tái bản DNA khởi đầu tại 3'OH, và tiến hành theo chiều 5' đến 3'.
- Phức hợp relaxasome bám vào lỗ truyền.
- Sự tái bản DNA kiểu vòng lăn trong thể nhận đẩy DNA sợi đơn (single stranded DNA = ssDNA) vào trong tế bào thể nhận.
- ssDNA được biến đổi thành DNA sợi kép (double stranded DNA = dsDNA) trong thể nhận bẳng cách tổng hợp DNA sợi ra chậm.
Khi vắng mặt thể nhận, relaxasome làm đứt và nối lại DNA của plasmid. Măc dù cơ chế còn chưa rõ, sự tiếp xúc với tế bào thể nhận bằng cách nào đó kích thích làm đứt và truyền DNA đi sau đó.
| Comments |
|
3.26 Copyright (C) 2008 Compojoom.com / Copyright (C) 2007 Alain Georgette / Copyright (C) 2006 Frantisek Hliva. All rights reserved."
| < Lùi | Tiếp > |
|---|
- Xạ khuẩn (Actinomycetes)
- Đặc điểm cấu tạo tế bào vi khuẩn
- Virus
- Đặc điểm chung của Vi sinh vật
- Phân tích di truyền trong chu trình cận hữu tính (tái tổ hợp trong nguyên phân)
- Đại cương về di truyền ở một số vi tảo thông dụng
- Tải nạp (Transduction)
- Lập bản đồ với E. coli: các plasmid F' và trắc nghiệm cis-trans
- Sự xen plasmid F vào trong nhiễm sắc thể vật chủ
- Các plasmid và sự truyền DNA ở vi khuẩn
- Định nghĩa, thí nghiệm và đặc điểm chung của tiếp hợp ở Vi khuẩn
- Cơ chế phân tử của biến nạp ở Vi khuẩn
- Kiểu hình và kiểu gene của vi khuẩn
- Các thể đột biến của vi khuẩn
- Đặc điểm sinh trưởng của Vi khuẩn trong môi trường nuôi cấy
- Viroid
- Các virus gây ung thư, HIV/AIDS …
- Các virus động vật
- Các virus thực vật
- Các virus của vi khuẩn
Cơ chế tiếp hợp ở V i khuẩn






