Monday, Sep 22nd

Last update08:13:18 AM GMT

Thuviensinhhoc.com Tiến hóa Học thuyết tiến hóa của Đacuyn còn gọi là thuyết CLTN

Học thuyết tiến hóa của Đacuyn còn gọi là thuyết CLTN

Email In

Thuyet tien hoa DacuynHọc thuyết tiến hóa nghiên cứu những quy luật phát triển lịch sử chung nhất của toàn bộ giới hữu cơ, giữa thiên nhiên hữu cơ với thiên nhiên vô cơ để đem lại sự nhận định về nguồn gốc phát sinh và phát triển tự nhiên của sinh giới.

a. Nguyên nhân tiến hóa:

CLTN tác động thông qua đặc tính biến dị và di truyền của sinh vật.

- Theo Đacuyn nhân tố tiến hóa bao gồm: biến dị và di truyền – cơ sở của quá trình tiến hóa.

+ Biến dị không xác định là những thay đổi về các đặc tính sinh vật phát sinh trong quá trình sinh sản, biểu hiện theo nhiều hướng khác nhau, khó phán đoán nguyên nhân thuộc về ngoại cảnh hay do bản chất cơ thể. Những biến đổi này có ý nghĩa tiến hóa quan trọng. Biến dị cá thể là chỉ các sai khác nhỏ giữa các cá thể trong loài, nhưng thường xuyên phát sinh trong quá trình sinh sản, là nguồn nguyên liệu chủ yếu trong quá trình tiến hóa. Các biến đổi lớn (Đacuyn gọi là các chệch hướng đột ngột) tuy đem lại những sai khác lớn nhưng thường ảnh hưởng đếnn khả năng sống của các cá thể mang biến dị, do đó khó được duy trì bằng con đường sinh sản.

+ Biến dị xác định là những thay đổi về đặc tính của sinh vật do ảnh hưởng trực tiếp của ngoại cảnh hoặc sự sử dụng thường xuyên của cơ quan, biểu hiện có tính chất đồng loạt.

 Nguyên nhân của biến dị cá thể: Ông cho rằng bản chất cơ thể khác nhau đã đưa đến phản ứng không như nhau trước điều kiện ngoại cảnh giống nhau. Gán cho ngoại cảnh với vai trò chỉ là tác nhân kích thích mà không can thiệp vào đặc điểm của biến dị là quá đề cao vai trò của bản chất cơ thể và xem nhẹ vai trò của ngoại cảnh.

+ Sự di truyền các biến dị: Để giải thích sự di truyền của biến dị, Đacuyn đã đưa ra giả thuyết chồi mầm. Do ảnh hưởng của tư tưởng di truyền hòa hợp lúc đó, Đacuyn đã chưa giải thích đúng đắn cơ chế di truyền của các biến dị có lợi nhỏ.

b. Cơ chế tiến hóa:

Đacuyn giải thích sự tiến hóa theo cơ chế CLTN : Sự tích lũy các biến dị có lợi, đào thải các biến dị có hại dưới sự tác động của CLTN.

Theo Đacuyn: CLTN là kết quả của bốn đặc tính sinh học:

+ Sinh vật biến đổi (biến dị xác định và biến dị không xác định – biến dị cá thể)

+ Biến dị có thể di truyền.

+ Sinh vật đối mặt với đấu tranh sinh tồn.

+ Thay đổi tính thích hợp giữa cá thể dựa trên sự khác biệt của chúng.

Tính thích hợp là khả năng liên quan của cá thể đối với sinh tồn và sinh sản.

Để chọn lọc xảy ra, sinh tồn và sinh sản là không ngẫu nhiên mà phải là một số tính trạng hoặc nhóm tính trạng mà tạo ra một số cá thể có khả năng sinh tồn và sinh sản tốt hơn cá thể khác.

Tính thích nghi là đặc tính (giải phẫu, sinh lý,...) để làm tăng thêm tính thích hợp của cá thể. VD tăng thêm tính kháng với ký sinh, tăng thêm tần suất giao phối,...

- Giải thích sự tiến hóa đa dạng và thích nghi với nhu cầu con người của vật nuôi, cây trồng, Đacuyn đã đưa ra thuyết chọn lọc nhân tạo.

+ Thực chất của quá trình chọn lọc nhân tạo:

CLNT là quá trình chọn lọc do con người tiến hành, dựa trên đặc tính biến dị và di truyền của sinh vật. Tính biến dị cung cấp các biến dị cá thể vô cùng phong phú, còn tính di truyền là cơ sở cho các biến dị cá thể được tích lũy qua các thế hệ.

Con người trong quá trình chăn nuôi, trồng trọt, đã đào thải những cá thể mang biến dị có hại hoặc không có lợi bằng cách loại bỏ hoặc hạn chế sự sinh sản của những cá thể vật nuôi, cây trồng không phù hợp với mục đích chọn lọc. Đồng thời tích lũy các biến dị có lợi cho con người bằng cách ưu tiên cho sinh sản của những cá thể mang biến dị phù hợp với mục đích chọn lọc.

+ Kết quả CLNT đã tạo ra nhiều giống vật nuôi, cây trồng khác nhau từ một vài dạng tổ tiên hoang dại, mỗi giống thích nghi với một nhu cầu nhất định của con người.

+ Động lực thúc đẩy quá trình chọn lọc là nhu cầu và thị hiếu, thẩm mỹ của con người.

Mục đích chọn lọc trong từng trường hợp cụ thể sẽ quy định hướng tích lũy biến dị trong trường hợp đó.

Sự chọn lọc tiến hành trên cùng một đối tượng vật nuôi hay cây trồng theo những hướng khác nhau đã tạo ra nhiều giống khác nhau từ một vài dạng tổ tiên hoang dại, Đacuyn gọi là sự phân ly dấu hiệu. => Giải thích nguồn gốc chung của các giống vật nuôi, cây trồng trong từng loài từ một dạng tổ tiên hoang dại.

- CLTN và đấu tranh sinh tồn:

+ CLTN là sự bảo tồn các biến dị cá thể và những biến đổi có lợi và tiêu diệt những cá thể mang biến dị và biến đổi có hại. Hoạt động của CLTN duy trì các biến dị có lợi cho bản thân sinh vật và đào thải các biến dị có hại.

+ Kết quả của CLTN là sự tồn tại của những dạng thích nghi nhất.

Những cá thể mang biến dị có lợi sẽ có ưu thế hơn về sự sống sót và sinh sản, khiến cho con cháu ngày càng đông.

Tiến hóa là sự tích lũy các biến dị có lợi qua nhiều thế hệ. Biến dị có lợi nhỏ thông qua sinh sản được nhân lên qua các thế hệ dưới tác động của CLTN trở thành những biến đổi lớn, có thể dẫn tới hình thành một loài mới.

+ Động lực thúc đẩy CLTN diễn ra liên tục là đấu tranh sinh tồn. Đấu tranh sinh tồn theo nghĩa rộng, bao gồm nhiều mối quan hệ phức tạp giữa sinh vật với hoàn cảnh sống vô cơ và hữu cơ trong môi trường. Sinh vật sống trong tự nhiên luôn phải phụ thuộc vào các điều kiện sống trong môi trường, chịu ảnh hưởng của các yếu tố bất lợi của môi trường. Vì vậy, các sinh vật thường xuyên phải chống chọi với các yếu tố bất lợi. giành lấy những điều kiện thuận lợi để tồn tại và phát triển. Trong các mối quan hệ đó, cạnh tranh sinh học cùng loài là động lực chủ yếu trong sự tiến hóa của loài.

Nguyên nhân: môi trường sống thường xuyên thay đổi sẽ đào thải những cá thế sinh vật nào không có được những đặc điểm giúp chúng sống sót và sinh sản, giữ lại những cá thể có những đặc điểm thích nghi hơn trong đấu tranh sinh tồn.

+ Vai trò của CLTN:

Phân hóa về khả năng sống sót và khả năng sinh sản của các cá thể trong quần thể.

Định hướng sự tích lũy các biến dị, xác định chiều hướng tiến hóa của quần thể sinh vật, hình thành các đặc điểm thích nghi.

Vai trò của CLTN trong sự hình thành đặc điểm thích nghi: Trong tự nhiên, sinh vật biếu hiện thích nghi với môi trường mà chúng đang sống. Con đường hình thành các đặc điểm thích nghi của sinh vật với môi trường mà chúng sống giải thích bằng tác dụng của CLTN thông qua đặc tính biến dị và di truyền của sinh vật. Sinh vật luôn phát sinh các biến dị cá thể theo những hướng khác nhau, giá trị thích nghi của các biến dị không như nhau trước cùng hoàn cảnh sống. Mỗi khi hoàn cảnh sống thay đổi thì số biến dị có lợi phù hợp với hoàn cảnh sống mới, ban đầu còn rất hiếm hoi. Hoạt động của CLTN qua hàng ngàn thế hệ đã bảo tồn, tích lũy các biến dị có lợi, xuất hiện ngẫu nhiên trên một vài cá thể thành những đặc điểm phổ biến cho mọi cá thể trong loài đồng thời tăng cường sự đào thải những dạng kém thích nghi. Đó chính là tác dụng sáng tạo của CLTN dẫn đến hình thành đặc điểm thích nghi của sinh vật.

Đacuyn đặc biệt nhấn mạnh mặt đào thải của CLTN. Không chú ý tới mặt đào thải của CLTN, người ta sẽ thừa nhận rằng, sinh vật vốn có khả năng biến đổi phù hợp với môi trường, mọi biến dị đều có lợi cho bản thân sinh vật. Hiệu quả của CLTN phụ thuộc vào cường độ đào thải do các yếu tố ngoại cảnh cũng như tốc độ phát sinh các biến dị trong quần thể.

- Đacuyn là người đầu tiên mô tả chọn lọc giới tính như là một cơ chế dẫn đến dị hình giới tính trong loài. Những đặc điểm giúp cho sinh vật thành công hơn trong giao phối do đó được chọn lọc bảo tồn.


Hướng dẫn download:
Click vào link → Chờ 5 giây → Click vào SKIP AD >> (Pass nếu có: www.thuviensinhhoc.com)

Hãy click nút Like và G+1 để ủng hộ Thư Viện Sinh Học!


Tin mới hơn:
Tin cũ hơn: