Monday, Jul 28th

Last update07:50:41 AM GMT

Thuviensinhhoc.com Tiến hóa Sự phát sinh loài người

Sự phát sinh loài người

Email In

- Vấn đề về nguồn gốc loài người và vị trí của con người trong tự nhiên đã được các nhà khoa học cũng như các nhà triết học quan tâm từ lâu và đã nêu ra nhiều giả thuyết. Từ thời cổ đại theo quan niệm thần thoại và tôn giáo cho rằng con người được tạo ra do các lực siêu nhiên (linh hồn, Thượng đế ...). Cụ thể theo Kinh thánh của đạo Thiên chua thì con người do Chúa trời tạo ra bằng cách dùng đất sét nặn ra hình hài con người và thổi "Linh hồn" vào hình hài đó. Trường phái triết học duy tâm quan niệm rằng con người gồm 2 phần : phần thể xác là vật chất còn phần linh hồn là phi vật chất, khi chết phần vật chất tan ra còn linh hồn tồn tại vĩnh viễn có thể lên Thiên đàng hoặc đầu thai vào thể xác khác.

Từ thời Cổ Hi Lạp (trước Công nguyên 300 - 500 năm) các nhà khoa học (trong đó có Aristôt) đã có quan niệm khoa học và duy vật về con người, cho rằng con người cũng là thành phần của tự nhiên và đứng ở vị trí cao nhất của bậc thang tiến hoá của sinh vật với đặc điểm không chỉ có tính sinh trưởng phát triển, vận động, sinh sản giống như các sinh vật khác (thực vật và động vật) mà còn có đặc điểm riêng biệt là tư duy. Ôn cũng cho rằng sinh vật không chỉ được sinh ra từ các sinh vật có sẵn (thuyết hữu sinh) mà còn có thể được sinh ra từ các chất vô cơ (thuyết vô sinh). Như ta đã biết năm 1758 Cac Linê đã xếp người vào giới Động vật, thuộc bộ Linh trưởng và đặt tên là Homo sapiens. Lamac là người đầu tiên (1809) cho rằng con người được phát sinh từ một loài vượn. Đacuyn đã áp dụng học thuyết tiến hoá CLTN vào nghiên cứu loài người và đã chứng minh bằng những bằn chứng giải phẫu  học và phôi sinh học (1871) là người có nguồn gốc và tiến hoá từ dạng vượn người cổ sống trên cây vào thế kỉ thứ 3 ở Châu phi.

Để làm sáng tỏ các giai đoạn của quá trình phát sinh và tiến hoá của loài nguời các nhà khoa học phải căn cứ chủ yếu vào các bằng chứng về hoá thạch tức là các di tích của các dạng tổ tiên trung gian của người được tồn lưu lại, bằng gỗ, bằng xương thú vật, cũng như các dấu tích để lại (dấu bàn chân in trong các lớp trầm tích...). Hoá thạch đầu tiên về người được phát hiện năm 1856 ở Đức là người Nêanđectan, đến năm 1868 hoá thạch người Crômanhôn được phát hiện ở Pháp, năm 1891 phát hiện hoá thạch người Java ở Inđônêsia, năm  1907 hoá thạch người Heiđenbec được phát hiện ở Đức, năm 1925 người vượn hoá thạch được phát hiện ở Chu Khẩu Điếm. Ở Việt Nam trong những năm 60 - 70 của thế kỉ XX cũng đã phát hiện nhiều di tích hoá thạch về người cổ.

Những dẫn liệu ít ỏi và rải rác về hoá thạch đã được phát hiện chưa cho phép các nhà khoa học đề xuất các giai đoạn phát sinh và tiến hoá của loài người. Nhưng tình hình sáng sủa hơn kể từ năm 1961 và đặc biệt khoảng hơn  30 năm trở lại đây do có đầu tư lớn trong việc khai quật khảo cổ, trên 2000 mẫu hoá thạch di tích người đã được phát hiện (chủ yếu ở Đông phi và Nam Phi) và được định tuổi nhờ tiến bộ của phương pháp đồng vị phóng xạ. Gần đây các bằng chứng về sinh học phân tử (phân tích đa dạng ADN, đa dạng prôtêin) cũng góp phần làm sáng tỏ thêm nhiều vấn đề về nguôn gốc phát sinh và tiến hoá của loài người. Vì vậy các vấn đề về nguồn gốc phát sinh và tiến hoá của loài người đã được nghiên cứu sâu hơn và có nhiều phát hiện mới làm đảo lộn các quan điểm trước đây. Trước đây thường có các quan niệm sai lầm sau đây về nguồn gốc loài người :

- Người hiện đại có nguồn gốc trực tiếp từ vượn người. Theo quan niệm hiện nay thì vượn người không phải là tổ tiên trực tiếp của người hiện đại mà người hiện đại và vượn người có chung


Hướng dẫn download:
Click vào link → Chờ 5 giây → Click vào SKIP AD >> (Pass nếu có: www.thuviensinhhoc.com)

Hãy click nút Like và G+1 để ủng hộ Thư Viện Sinh Học!


Tin mới hơn:
Tin cũ hơn: