Thursday, Oct 02nd

Last update08:13:18 AM GMT

Thuviensinhhoc.com Sinh thái học Chu trình photpho (Phosphor - P)

Chu trình photpho (Phosphor - P)

Email In

Như  một  thành  phần  cấu  trúc  của  axit  nucleic,  lipitphotpho  và nhiều hợp chất có liên quan với phốt pho, phốt pho là một trong những chất dinh dưỡng quan trọng bậc nhất trong hệ thống sinh học. Tỷ lệ phốt pho so với các chất khác trong cơ thể thường lớn hơn tỷ lệ như thế bên ngoài mà cơ thể có thể kiếm được và ở nguồn của chúng.

Do vậy, photpho trở  thành  yếu  tố  sinh  thái  vừa  mang  tính  giới  hạn,  vừa  mang  tính  điều chỉnh.   Ta   có   thể   hình   dung,   sự   phát   triển   của   thực   vật   phù   du (Phytoplankton)  trong  các  hồ  biến  động  rất  lớn,  phụ  thuộc  vào  sự  biến thiên rất mạnh của hàm lượng phốt pho tổng số, đặc biệt vào tỷ lệ hàm lượng giữa phốt pho, nitơ và cacbon. Ngay những hồ mà có tỷ lệ nitơ thấp hơn so với phốt pho thì dù phốt pho có giàu, thực vật phù du cũng không thể phát triển mạnh. Như vậy, nitơ trở thành yếu tố giới hạn. Tỷ lệ tương đối của các muối dinh dưỡng cho sự phát triển của thực vật phù du liên quan chặt chẽ với một phức hợp của quá trình sinh học, địa chất và vật lý, bao gồm cả sự quang hợp, sự lựa chọn của các loài tảo có khả năng sử dụng nitơ của khí quyển, cả độ kiềm, việc cung cấp muối dinh dưỡng, tốc độ đổi mới và xáo trộn của nước.

Thực   vật   đòi   hỏi   photpho   vô   cơ   cho   dinh   dưỡng.   Đó   là orthophotphat  (PO4).  Trong  chu  trình  khoáng  điển  hình,  photphat  sẽ được chuyển cho sinh vật sử dụng và sau lại được giải phóng do quá trình phân  huỷ.  Tuy  nhiên,  đối  với  photpho  trên  con  đường  vận  chuyển  của mình bị lắng đọng rất lớn. D.R. Lean (1973) nhận ra rằng, sự “bài tiết” phốt pho hữu cơ của thực vật phù du cũng dẫn đến sự tạo thành các chất keo ngoài tế bào mà chúng xem như các phần tử vô định hình chứa phốt pho trong nước hồ. Ở biển, sự phân huỷ sinh học diễn ra rất chậm, khó để phốt pho sớm trở lại tuần hoàn. Tham gia vào sự tái tạo này chủ yếu là nguyên  sinh  động  vật  (Protozoa)  và  động  vật  đa  bào  (Metazoa)  có  kích thước nhỏ.

Sự mất phốt pho gây ra bởi 2 quá trình diễn ra khác nhau: một dài, một  ngắn.  Sự  hấp  thụ  vật  lý  của  trầm  tích  và  đất  có  vai  trò  quan  trọng trong việc kiểm tra hàm lượng photpho hoà tan trong đất và các hồ. Ngược lại,  sự  lắng  đọng,  thường  kết  hợp  photpho  với  nhiều  cation  khác  như nhôm, canxi, sắt, mangan... do đó, tạo nên kết tủa lắng xuống. Trong các khu vực nước có sự xáo động mạnh hoặc nước trồi, photpho mới được đưa trở lại tầng nước. Lượng photpho quay trở lại còn nhờ chim hoặc do nghề cá, song rất ít so với lượng đã mất. Những thực vật sống đáy ở vùng nước nông được ví như một cái bơm động lực có thể thu hồi lượng photpho ở sâu  trong  trầm  tích  đáy.  Người  ta  đã  thống  kê  được  9  loài  thực  vật  lớn (Macrophyta) phổ biến tham gia vào việc tìm kiếm và khai thác photpho trong  các  “mỏ”  như  thế  thuộc  các  chi  Myriophyllum,  Potamogeton, Callitriche, Elodea và Najas...

Sự lắng chìm của phốt pho còn gắn với các hợp chất của lưu huỳnh như FeS, Fe2S3 trong chu trình lưu huỳnh và cả với quá trình phản nitrat.

Xương, răng động vật chìm xuống đáy sâu đại dương cũng mang đi một lượng phốt pho đáng kể. Song sự tạo thành guano (chất thải của chim biển) hàng nghìn năm dọc bờ tây của Nam Mỹ (Chi lê, Peru) lại là mỏ  phân  photphat  cực  lớn.  Trên  đảo  Hoàng  Sa,  Trường  Sa,  phân  chim trộn với đá vôi san hô trong điều kiện “dầm” mưa nhiệt đới cũng đã hình thành mỏ phân lân quan trọng như thế.

Hương Thảo


Hướng dẫn download:
Click vào link → Chờ 5 giây → Click vào SKIP AD >> (Pass nếu có: www.thuviensinhhoc.com)

Hãy click nút Like và G+1 để ủng hộ Thư Viện Sinh Học!


Tin mới hơn:
Tin cũ hơn: