Tuesday, Sep 02nd

Last update07:15:08 PM GMT

Thuviensinhhoc.com

Tuyến sinh dục

Email In

Tuyến sinh dục ở nam giới và động vật đực là tinh hoàn, của nữ giới và động vật cái là buồng trứng. Đây là những tuyến pha vừa nội tiết, vừa ngoại tiết, ngoại tiết là tạo ra tinh trùng và trứng, nội tiết là tiết các hormon sinh dục. Cả tinh hoàn và buồng trứng đều có nguồn gốc phôi thai từ mầm niệu - sinh dục.

1. Tuyến sinh dục đực (Testis)

1.1 Cấu tạo tinh hoàn

Ở  người,  giai  đoạn  bào  thai,  hai  tinh  hoàn  phát  triển  trong  hốc  bụng,  đến  tháng  thứ  8 chúng chuyển xuống đáy bìu, và nằm trong bìu suốt đời.

duongvat-thangnghieng

Cấu tạo hệ sinh dục nam

tinh_hoan
Cấu tạo tinh hoàn

Mỗi tinh hoàn có màng xơ bao quanh, màng này chia ra nhiều vách ngăn làm cho mỗi tinh hoàn có khoảng 200 - 300 ngăn, trong mỗi ngăn có các ống sinh tinh dài uốn khúc. Các ống sinh tinh tập trung  thành các ống dẫn tinh nhỏ của từng ngăn, rồi tập trung lên mào tinh hoàn. Từ đây, ống dẫn tinh của mỗi tinh hoàn sẽ đi ngược lên, chui qua lỗ bẹn, vòng ra trước xương mu và vào hố chậu bé. Qua bàng quang, ống dẫn tinh phân nhánh, một nhánh vào túi tinh, nhánh kia vào tuyến tiền liệt ở phía dưới bàng quang, cuối cùng nhập vào niệu đạo. Xen kẽ các ống sinh tinh trong các ngăn của tinh hoàn là các tế bào kẽ (hay còn gọi là Leydig). Thành ống sinh tinh là lớp liên bào sản xuất ra tinh trùng, còn tế bào kẽ sản xuất ra hormon.

Khi cắt bỏ tinh hoàn (thiến động vật để nuôi và các quan hoạn ngày xưa) con vật béo hơn, mất tính hung dữ của giống đực. Ở người mất tinh hoàn trước tuổi dậy thì, người phát triển cao do sụn liên hợp không bị hạn chế phát triển, các xương dài tăng mạnh. Thoái biến các đặc điểm sinh dục phụ như không có râu, không có lông mu, lông nách, da mịn màng như con gái, giọng nói thanh cao. Các bộ phận sinh dục không phát triển, bất lực và không có con được. Nếu cắt sau tuổi dậy thì, có ít biến đổi bề ngoài, nhưng túi tinh và tuyến tiền liệt teo lại, còn khả năng sinh dục nhưng không có con.

1.2   Hormon sinh dục đực

Các  hormon  sinh  dục  đực  gọi  chung  là  androgens  (ở  phần vỏ  tuyến  trên  thận  cũng có hormon này), các tế bào Leydig sản xuất ra testosteron, thuộc nhóm steroid, có 19 carbon. Ngoài ra còn một số khác như androsteron, androstadiol... Hàm lượng testosteron trong huyết tương nam giới trưởng thành là 700mg/100ml, ở trẻ em 40mg/100ml, ở nữ giới 40mg/100ml.

Các hormon sinh dục đực có tác dụng như sau:

Kích thích sự phát triển giới tính ngay từ trong bào thai và hình thành  giới tính đực ở thai nhi. Ở giai đoạn trước tuổi dậy thì hàm lượng còn thấp, nhưng đến tuổi dậy thì hàm lượng tăng cao, làm phát triển mạnh các đặc điểm sinh dục  giới tính thứ cấp như cơ quan sinh dục, mọc râu, giọng trầm, tính tình hung dữ. Đồng thời kích thích quá trình sinh tinh trùng, dinh dưỡng tinh trùng chuyển sang giai đoạn chín.

Tham gia quá trình chuyển hóa làm phát triển cơ thể. Tăng tổng hợp protein, cân bằng nitơ dương.

Tăng dị hóa lipid và huy động lipid (thiếu sẽ béo hơn). Còn với glucid thì tăng tổng hợp glycogen ở cơ. Chúng cũng có tác dụng giữ muối NaCl và nước (tiêm testosteron liều cao gây phù). Làm tăng chuyển hóa cơ sở.

1.3   Điều hoà hoạt động nội tiết sinh dục đực 

Điều hoà hoạt động nội tiết sinh dục đực có sự tham gia của hệ thần kinh trung ương từ vỏ  não  đến  hệ  limbic  và  hypothalamus.  Cơ  chế  liên  hệ  ngược  được  thực  hiện  thông  qua hypothalamus - tuyến yên và tuyến sinh dục với hàm lượng các hormon của chúng.

2   Tuyến sinh dục cái (Ovary) 

2.1  Cấu tạo buồng trứng

buong_trung

Cấu tạo buồng trứng ở người

Tuyến sinh dục cái là hai buồng trứng hình trái xoan, kích thước khoảng 3 x 1,5 x 1 cm. Trong buồng trứng có nhiều nang trứng (gọi là nang De Graaf). Mỗi nang có chứa một trứng.

Sơ sinh, mỗi người có khoảng 30.000-300.000 nang, đến lúc dậy thì chỉ còn khoảng 400-500 nang trứng có khả năng phát triển, chín và rụng trứng ra ngoài hàng tháng.

Quá trình phát triển của trứng diễn ra theo chu kỳ

phat_trien_trung
Chu kỳ phát triển của trứng

2.2  Hormon sinh dục cái 

a.   Oestrogen 

Nang  có  các  tế  bào  hạt  tiết  ra  hormon  sinh  dục  là  oestrogen,  trong  đó  gồm  3  loại  là Oestron (còn gọi là Folliculin), Oestriol và Oestradiol. Một lượng nhỏ các hormon này cũng còn được tiết ra từ tế bào thể vàng, nhau thai, vỏ tuyến trên thận và tinh hoàn.

Hàm lượng các hormon này trong máu khác nhau, phụ thuộc vào các giai đoạn của chu kỳ kinh nguyệt và thời kỳ thai nghén. Trước khi rụng trứng là 300-400 mg/24giờ, sau rụng trứng là 150-200 mg /24giờ.

Tác dụng của những hormon này là gây động dục và phát triển các cơ quan sinh dục và các đặc điểm sinh dục thứ cấp ở động vật cái và phụ nữ. Bắt đầu từ tuổi dậy thì có ý nghĩa quan trọng, thúc đẩy trứng phát triển, chín và rụng trứng. Phát triển niêm mạc tử cung trong chu kỳ kinh nguyệt, hóa sừng tế bào âm đạo.

Tăng cường chuyển hóa: với glucid thì tăng phân giải làm giảm đường huyết. Với lipid tăng dự trữ mỡ dưới da một cách vừa phải (làm đẹp giới tính, khi thiểu năng hay gây chứng béo phì do mỡ tích tụ quá nhiều không được phân giải do chính oestrogen). Với protein, kích thích tổng hợp protein làm cơ thể phát triển nhất là vùng mông, chậu hông. Tăng tổng hợp ARN, nhất là ARN thông tin. Với nước và muối khoáng, có tác dụng giữ nước và muối (hàm lượng cao có thể gây phù trước kinh nguyệt hay khi thai nghén).

Ở nam giới  cũng  có  một  lượng  nhỏ hormon  oestrogen  có  tác  dụng  tăng sinh, làm cho tuyến tiền liệt, túi tinh, ống dẫn tinh phát triển. Nhưng hàm lượng cao (tiêm oestrogen) lại gây nữ hóa, teo tinh hoàn, ức chế bài tiết androgen.

b.    Hormon thể vàng (progesteron)

Khi bao noãn chín, trứng rụng khỏi nang, các tế bào nang còn lại bị nhiễm sắc tố màu vàng và phát triển thành thể vàng (hoàng thể). Khi tồn tại và hoạt động thể vàng tiết ra một hormon là progesteron, là một steroid có 21 carbon. Nó cũng được tiết ra một lượng nhỏ từ phần vỏ tuyến trên thận, tinh hoàn và nhau thai.

Nếu trứng được thụ tinh và làm tổ, hormon này có tác dụng dưỡng thai, giúp thai làm tổ phát triển trong niêm mạc tử cung. Cho đến tháng thứ 5 của thời kỳ thai nghén, thể vàng mới teo dần và giảm tiết.

Nếu trứng không được thụ tinh, thể vàng teo ngay và biến mất ở những ngày cuối của chu kỳ kinh nguyệt.

Progesteron là hormon dưỡng thai quan trọng nhất, thiếu nó thai không phát triển được.

Nó còn có tác dụng làm phát triển cơ tử cung, mềm mại và không co bóp, làm niêm mạc tử cung phát triển mạnh khi mang thai. Nó còn tác dụng kích thích bài tiết prolactin làm tăng phát triển các ống sữa của tuyến vú.

c.   Hormon nhau thai

Ngay khi hợp tử bắt đầu làm tổ ở tử cung, túi phôi cũng được hình thành và phát triển. Khi túi phôi lớn lên thành nhau thai thì chiếm gần hết tử cung. Thai nhi được nối với nhau thai qua cuống rốn và tồn tại trong bọc màng ối, có đầy dịch. Nước ối trao đổi tự do với thể dịch của mẹ (trừ hồng cầu) là môi trường trao đổi các chất dinh dưỡng giữa thai nhi và người mẹ. Đây cũng là khoảng đệm cho thai và truyền áp lực khi tử cung co bóp. Khi bắt đầu hình thành,  túi  phôi  và  sau  là  nhau  thai  tiết  ra  hormon  là  HCG  (ở  người  =  Human  Chorionic Gonadotropin), (cũng còn có tên là Prolan B), là một glycoprotein gồm hai chuỗi polypeptid a và b, trọng lượng phân tử chung là 16.000 giống với các hormon của thùy trước tuyến yên là FSH, LH, TSH.

Tác dụng của HCG là duy trì và phát triển thể vàng, kích thích thể vàng tiết progesteron, kích thích tuyến yên tăng cường tiết kích nhũ tố.

Sự có mặt sớm của HCG trong máu và nước giải người phụ nữ có thai ngay từ tuần đầu đã  được  ứng  dụng  trong  phương  pháp  chẩn  đoán  thai  sớm.  Có  nhiều  phương  pháp,  nhưng thông dụng nhất là các phương pháp cổ điển sau:

Phương pháp Galli-Mainini: dùng ếch đực, lấy nước tiểu từ huyệt rồi soi trên kính hiển vi, không thấy có tinh trùng là được. Tiêm độ 3-5ml nước tiểu người nghi có thai qua đùi vào túi bạch huyết vùng huyệt, để yên tĩnh khoảng 1 giờ. Lấy lại nước tiểu soi dưới kính hiển vi, nếu xuất hiện nhiều tinh trùng là phản ứng dương tính - đã thụ thai, nếu không là phản ứng âm tính - không thụ thai.

Phương  pháp  Friedmann-Bruha:  mổ  xem  tử  cung  của  một  thỏ  cái,  thấy  không  có  bao noãn chín thì tiêm cho thỏ 5ml nước tiểu người nghi có thai. Nuôi thỏ, sau 48 giờ, xem lại tử cung nếu xuất hiện nhiều bao noãn chín là phản ứng dương tính, nếu không là âm tính.

Cả hai phương pháp đều dựa vào sự có mặt của HCG trong nước tiểu người có thai và khả năng của HCG kích thích sinh tinh trùng ở ếch và làm chín trứng ở thỏ.

Ngày nay, người ta thường thực hiện bằng các phương pháp sinh hoá như phương pháp HCG – Vitest, phương pháp Lectin. Các phương pháp này cho kết quả nhanh, chính xác. Tuy nhiên hai phương pháp kinh điển trên động vật lại giúp cho người học có thể quan sát thấy sự xuất hiện tinh trùng ếch dưới kính hiển vi và trứng chín trong tử cung thỏ do tác dụng kích thích của hormon sinh dục.

Đại Nam


Hướng dẫn download:
Click vào link → Chờ 5 giây → Click vào SKIP AD >> (Pass nếu có: www.thuviensinhhoc.com)

Hãy click nút Like và G+1 để ủng hộ Thư Viện Sinh Học!


Tin mới hơn:
Tin cũ hơn: