Thường biến là những biến đổi ở kiểu hình của cùng một kiểu gen, phát sinh trong đời sống cá thể dưới ảnh hưởng của môi trường, không do sự biến đổi trong kiểu gen.
Các kiểu thường biến
Thường biến có thể chia thành 4 kiểu:
1. Thường biến thích nghi hay thường biến thích ứng

Kiểu thường biến này thường gặp và được nghiên cứu nhiều nhất. Đó là những biến dị không di truyền nhưng có lợi cho bản thân sinh vật vì nó giúp cho cơ thể sinh vật thích nghi được với môi trường ngoài luôn biến đổi. Loại thường biến này biểu hiện đồng loạt và tương ứng với điều kiện ngoại cảnh.
Thường biến thích nghi có thể định nghĩa là sự phản ứng của cùng một kiểu gen đối với những điều kiện môi trường khác nhau.
Ví dụ, các biến đổi về màu sắc cơ thể động vật (thằn lằn, cá ...) và lá cây trước những biến đổi về cường độ chiếu sáng và nhiều loại biến đổi khác.
2. Thường biến ngẫu nhiên
Không phải tất cả thường biến phát sinh do tác động của các tác nhân vật lí và hóa học ở liều lượng hoặc nồng độ khủng hoảng hoặc nồng độ cao hơn đều là thường biến thích ứng mà nhiều thường biến biểu hiện ngẫu nhiên đối với tác động của các tác nhân gây ra chúng.
Hiện tượng một thường biến có kiểu hình giống với kiểu hình của một đột biến đã biết được gọi là hiện tượng sao hình.
Những hiểu biết về hiện tượng sao hình giúp cho các nhà chọn giống đột biến không chọn nhầm phải các thường biến.
3. Hiện tượng sao chép kiểu hình dạng chuẩn
Hiện tượng này khá phổ biến ở vi sinh vật. S. Benzer là một trung những người đầu tiên phát hiện ra hiện tượng sao chép kiểu hình dạng chuẩn.
Khi nuôi cấy thể đột biến amber (đột biến xảy ra ở gen RII của phagơ T4 làm cho nó không hòa tan được nòi E.coli K) trong môi trường có 5-flouraxin thì phát hiện một số thể đột biến này có khả năng hòa tan E.coli K. Như vậy là, 5-flouraxin thay thế uraxin trong mARN kết cặp với guanin thay vì ađênin. Cơ chế trên đây đã gây sai lầm trong dịch mã, dẫn đến một số thể đột biến có kiểu hình dại.
4. Thường biến kéo dài
Thường biến kéo dài là biến dị không di truyền duy trì được qua một vài thế hệ theo xu hướng ngày càng giảm sự sai khác với dạng ban đầu, cuối cùng lại quay trở lại kiểu hình cũ.
Ví dụ, khi chiếu xạ vào hạt lúa tám thơm Hải Hậu: thế hệ đầu chín sớm hơn 45 ngày, thế hệ thứ 2 chín sớm hơn 15 ngày và sang thế hệ thứ 3 thì chín cùng với đối chứng.
Theo Vũ Đức Lưu/BDHSG-SH-DTTH
| Comments |
|
3.26 Copyright (C) 2008 Compojoom.com / Copyright (C) 2007 Alain Georgette / Copyright (C) 2006 Frantisek Hliva. All rights reserved."
| < Lùi | Tiếp > |
|---|
- Đặc điểm di truyền ngoài nhiễm sắc thể
- Sự di truyền của các gen trong ti thể và lạp thể
- Tương tác cộng gộp và tính trạng số lượng
- Nhưng phức tạp trong biểu hiện kiểu gen
- Sự di truyền các gene trội lặn trên nhiễm sắc thể giới tính
- Các gene sửa đổi (modifier or modifying genes) và hiện tượng sao hình
- Môi trường và các gene gây chết có điều kiện
- Độ thâm nhập (penetrance) và độ biểu hiện (expressivity)
- Thường biến và mức phản ứng
- Tương tác cộng gộp (additive)
Thường biến và các kiểu thường biến





