Friday, Jul 25th

Last update07:50:41 AM GMT

Thuviensinhhoc.com

Đặc điểm chung của động vật thân mềm

Email In

1) Cơ thể được chia thành 3 phần là đầu, thân và chân, mức độ phát triển của các phần tuỳ thuộc vào từng nhóm khác nhau trong đó phần đầu xác định. Hầu hết động vật thân mềm có đối xứng 2 bên, riêng nhóm chân bụng (ốc) có hiện tượng mất đối xứng (hình 6.1).

Unlimited Free Image and File Hosting at MediaFire

2) Chân được hình thành ở mặt bụng, có một số chức phận nhưng quan trọng nhất là vận chuyển.

3) Có một cơ quan đặc trưng nằm ở mặt lưng là áo, có xoang áo bao lấy mang hay phổi, ngoài áo là vỏ.

4) Bề mặt của biểu bì là các lông nhỏ, tuyến tiết chất nhầy và tận cùng của thần kinh.

5) Xoang cơ thể còn lại là xoang bao tim và một số phần khác như xoang thận.

6) Hệ tiêu hoá cấu tạo hoàn chình, ở miệng có các lưỡi gai (radula) còn hậu môn thường đổ vào xoang áo.

7) Hệ tuần hoàn hở (trừ Chân đầu là tuần hoàn kín), tim thường có 3 buồng. hệ mạch gồm các động mạch, tĩnh mạch, mao mạch và có sắc tố hô hấp trong máu.

8) Hô hấp bằng mang, phổi nằm trong xoang áo, một số hô hấp qua bề mặt cơ thể.

9) Bài tiết là hậu đơn thận, có 1 hay 2 thận, có ống dẫn và lỗ bài tiết đổ vào xoang áo.

10) Thần kinh có các đôi hạch não, hạch bên, hạch chân và hạch nội tạng… Ở Chân bụng và Chân đầu các hạch nối với nhau tạo thành vòng thần kinh.

11) Cơ quan cảm giác  khá  phát triển gồm xúc giác,  khứu, vị giác và thị giác (phát triển nhất ở Chân đầu).

12) Có xuất hiện thêm một số cơ quan bên trong giữ chức phận quan trọng.

13)  Có  cả  dạng  đơn  tính  và  lưỡng  tính,  phân  cắt  xoắn  ốc,  ấu  trùng  là trochophora, một số nhóm là veliger, một số khác phát triển trực tiếp.

Lớp  biểu  bì  của  phần  thân  hình  thành  nên  áo  (hay  được  gọi  là  vạt  áo).  Từ ngoài vào trong, áo gồm có 3 lớp rõ ràng là biểu bì ngoài, lớp mô liên kết và trong cùng là lớp biểu bì trong. Biểu bì của áo (lớp tế bào ngoài) hình thành nên vỏ bọc cơ thể với độ dày và cấu trúc khác nhau. Ngoài cùng của vỏ là lớp sừng (conchyolin = periostracum) mỏng, tiếp đến là lớp caxin gồm các tinh thể hình lăng trụ khá dày, trong cùng là lớp xà cừ mỏng hơn (hình 6.2).

Mặc dù cơ thể không phân đốt nhưng vẫn biểu hiện về sự sắp xếp phân đốt của các cơ quan. Ví dụ như ở song kinh Có vỏ và Vỏ một tấm có phần đầu không phát triển, khoang áo chỉ là 2 rãnh bên chân, biểu hiện sự phân đốt ở lớp vỏ, ở cấu tạo hệ thần kinh... Lớp chân bụng có phần thân xoắn chóp làm cơ thể mất đối xứng và chỉ thích nghi với đời sống bò chậm trên giá thể. Chân rìu (Hai mảnh vỏ) có 2 vỏ khớp vào nhau nhờ răng và dây chằng ở mặt lưng, phần đầu tiêu giảm, thích nghi với đời sống chui rúc trong bùn, cát. Chân thùy (hay Chân xẻng) có vỏ dạng ống, phần đầu tiêu giảm  để  thích  nghi  với  đời  sống  chui  trong  bùn.  Chân  đầu  có  phần  chân  chuyển thành  tua  đầu,  hình  thành  phễu  phun  nước  từ  xoang  áo.  Phần  đầu  phát  triển,  vỏ chuyển vào trong thành tấm nâng đỡ, cấu trúc cơ thể thuôn dài thích nghi với đời sống săn mồi tích cực.

Unlimited Free Image and File Hosting at MediaFire

Nội quan của thân mềm có những thay đổi phù hợp với lối sống. Thể xoang của thân mềm tiêu giảm nhiều, chỉ còn lại một phần quanh tim (được gọi là xoang bao tim) và phần bao quanh tuyến sinh dục (xoang sinh dục). Phần còn lại giữa các nội quan có mô liên kết lấp đầy. Có ý kiến cho rằng thân mềm chỉ phát triển ở mức độ xoang giả (pseudocoelum), tuy nhiên nhiều dẫn liệu cho thấy xoang cơ thể của thân mềm chính là thể xoang tiêu giảm. Thân mềm có hệ tuần hoàn hở (máu không chảy hoàn toàn trong mạch), nhưng lại có tim có cấu tạo khá hoàn chỉnh. Ở mực tim có một tâm thất và 2 hay 4 tâm nhĩ). Hệ bài tiết là dạng biến đổi của hậu đơn thận.

Unlimited Free Image and File Hosting at MediaFire

Hệ thần kinh theo kiểu bậc thang kép (ở nhóm thân mềm cổ) hay dạng hạch phân tán. Hệ tiêu hoá có cơ quan đặc trưng là lưỡi gai (radula). Cơ quan hô hấp là mang lược (ctenidia) (hình 6.3).

Lưỡi gai (lưỡi bào - radula) là cấu trúc đặc trưng của động vật thân mềm, cấu tạo là một khối kitin hay prôtein lát thành dưới của thực quản, mặt trên lưỡi gai có nhiều dãy răng kitin. Phần gốc của lưỡi gai có các tế bào sinh ra phần lưỡi gai khi bị bào  mòn  do  quá  trình  tiêu  hoá.  Hoạt  động  của  lưỡi  gai  được  điều  khiển  bởi  các chùm cơ co và duỗi và lưỡi gai có thể thò ra ngoài cạo và cuốn thức ăn là thực vật vào miệng. Sự sắp xếp của các gai trên lưỡi gai là đặc điểm chẩn loại quan trọng (hình 6.4).

Unlimited Free Image and File Hosting at MediaFire

Thảo Hiên (theo giáo trình ĐVKXS)


Hướng dẫn download:
Click vào link → Chờ 5 giây → Click vào SKIP AD >> (Pass nếu có: www.thuviensinhhoc.com)

Hãy click nút Like và G+1 để ủng hộ Thư Viện Sinh Học!


Tin mới hơn:
Tin cũ hơn: