Monday, May 21st

Last update09:20:02 PM GMT

Thuviensinhhoc.com DT phân tử Thành phần hóa học của DNA

Thành phần hóa học của DNA

Email In

Năm 1944, Oswald T. Avery và các đồng sự của mình chứng minh DNA là vật chất mang thông tin di truyền, chứ không phải protein. Đến năm 1949, Erwin Chargaff áp dụng phương pháp sắc ký giấy vào việc phân tích thành phần hóa học của DNA các loài khác nhau (Bảng 1) đã khám phá ra rằng:

 

Bảng 1   Thành phần base của DNA ở một số loài

Sinh vật

A%

T%

G%

C%

 

DNA_C3

 

DNA_C3_1

Phage lambda

21,3

22,9

28,6

27,2

1,00

0,79

Phage T7

26,0

26,0

24,0

24,0

1,00

1,08

Mycobacterium tuberculosis

15,1

14,6

34,9

35,4

1,00

0,42

Escherichia coli

24,7

23,6

26,0

25,7

1,03

0,93

Aspergillus niger (nấm mốc)

25,0

24,9

25,1

25,0

1,00

1,00

Saccharomyces cerevisiae

31,3

32,9

18,7

17,1

1,00

1,79

Triticum (lúa mỳ)

27,3

27,1

22,7

22,8

1,00

1,19

Zea mays (ngô)

26,8

27,2

22,8

23,2

0,98

1,17

Salmo salar (cá hồi)

29,7

29,1

20,8

20,4

1,02

1,43

Gallus domestica (gà  nhà)

29,5

27,7

22,4

20,4

1,08

1,34

Homo sapiens (người)

30,9

29,4

19,9

19,8

1,01

1,52

(i) Số lượng bốn loại base trong DNA là không bằng nhau;

(ii) Tỷ lệ tương đối của các base là không ngẫu nhiên; và trong tất cả các mẫu DNA nghiên cứu tồn tại mối tương quan về hàm lượng (%) giữa các base như sau: A ≈ T và G ≈ C, nghĩa là tỷ số (A+G)/ T+C) ≈ 1; và

(iii) Mỗi loài có một tỷ lệ (A+T)/(G+C) đặc thù


Comments
Viết nhận xét mới Tìm kiếm
Viết nhận xét
Tên:
Email:
 
Tiêu đề:
 
Hãy nhập mã xác nhận. Nhận xét phải được gõ bằng Tiếng Việt có dấu!

3.26 Copyright (C) 2008 Compojoom.com / Copyright (C) 2007 Alain Georgette / Copyright (C) 2006 Frantisek Hliva. All rights reserved."


Tin mới hơn:
Tin cũ hơn: