Tuesday, Oct 21st

Last update03:13:18 PM GMT

Thuviensinhhoc.com Tuyển tập SKKN

Chuyên đề Sinh học

SKKN Đổi mới PPDH sinh học gắn với ...

Download

Lồng ghép kiến thức giáo dục giới tính vào bài 47 sinh học 11

Hiện nay, trong chương trình giỏo d?c đào tạo? tru?ng THPT của Việt Nam, vấn đề giáo dục giới tính cho học sinh chưa được quan tâm đúng mức. Chưa hề có môn giáo dục giới tính được đưa vào nội dung giảng dạy. Vấn đề này được lồng ghép vào một số nội dung trong môn sinh học hay một số bài trong môn Giáo dụng công dân, địa lí. Tuy nhiên, những nội dung đó vẫn còn chung chung, chưa đáp ứng được nhu cầu hiểu biết và sự cần thiết phải nắm vững các kiến thức về giới tính của các em học sinh.


Click here to download

CT xác định tỉ lệ KH của phép lai giữa hai cá thể dị hợp

Trong chương trình Sinh học 12, phần di truyền có ba quy luật di truyền rất  quan trong là : Phân ly độc lập(PLĐL); Liên kết gen(LKG) và Hóan vị gen(HVG).  Liên quan đến kiến thức này có thể yêu cầu học sinh làm một số bài tập di truyền về các phép lai giữa hai cá thể dị hợp tử về hai cặp gen. Thực tế  qua các Kỳ thi Tốt nghiệp PTTH và tuyển sinh Đại học cao đẳng; rất nhiều đề thi có các câu hỏi trắc nghiệm về tóan lai có liên quan đến phép lai giữa hai cá thể dị hợp về hai cặp gen. Qua thực tịễn giảng dạy tôi thấy có rất nhiều học sinh gặp khó khăn, lúng túng khi làm các bài tập này. Hầu hết các tài liệu tham khảo khi hướng dẫn đều lập sơ đồ lai rồi xác định kết quả: tỷ lệ kiểu gen và tỷ lệ kiểu hình. Với một bài tập trắc nghiệm mà giải như vậy sẽ mất thời gian và dễ sai sót  khi thống kê. Với lý do đó mà bản thân đưa ra: CÔNG THỨC XÁC ĐỊNH  TỶ LỆ KIỂU HÌNH CỦA PHÉP LAI GIỮA  HAI CÁ THỂ  DỊ HỢP   HAI CẶP GEN.


Click here to download

Tế bào gốc và nhân bản vô tính

Nhân bản (cloning) là tạo ra “bản sao” của một tế bào hoặc một sinh vật. Các “bản sao” được tạo ra bằng kỹ thuật cloning được gọi là các clone, các clone này giống y hệt nhau về mặt di truyền.

Nhân bản người và động vật có thể xảy ra trong tự nhiên hoặc nhân tạo. Đây là một hình thức sinh sản đặc biệt mà kết quả là tạo ra các cơ thể giống hệt nhau về gen. Có hai kiểu nhân bản động vật là nhân bản phôi (nhân bản từ các tế bào phôi) và nhân bản vô tính từ các tế bào trưởng thành. Nhân bản phôi người và động vật có thể xẩy ra trong tự nhiên hoặc nhân tạo (các trường hợp sinh đôi cùng trứng là ví dụ điển hình của nhân bản phôi người và động vật trong tự nhiên) còn nhân bản vô tính từ các tế bào trưởng thành chỉ có thể xảy ra trong phòng thí nghiệm. Trong nhân bản vô tính từ một tế bào trưởng thành, “bản sao” (clone) sẽ là một động vật giống y chang “bố/mẹ” về mặt di truyền. “Bố/mẹ” này chính là động vật cho nhân tế bào lưỡng bội để nhân bản. Nhân bản vô tính có thể thực hiện được với các tế bào có nhân lưỡng bội lấy từ phôi, thai, hoặc từ một động vật trưởng thành, thậm chí có thể từ các mô đông lạnh.


Click here to download

Chuyên đề: Vấn đề ô nhiễm môi trường hiện nay

Ngày nay, vấn đề ô nhiễm môi trường đã và đang ngày càng trở nên nghiêm trọng hơn. Trên các phương tiện thông tin đại chúng hằng ngày, chúng ta có thể dễ dàng bắt gặp những hình ảnh, những thông tin về việc môi trường bị ô nhiễm. Bất chấp những lời kêu gọi bảo vệ môi trường, tình trạng ô nhiễm càng lúc càng trở nên trầm trọng. Điều này khiến chúng ta phải suy nghĩ…

Theo bản tổng kết môi trường toàn cầu do Chương trình Môi trường Liên Hợp Quốc (UNEP) Hà Nội và Tp. HCM nằm trong danh sách 6 thành phố ô nhiễm không khí nghiêm trọng nhất thế giới. Về nồng độ bụi, hai thành phố lớn nhất Việt Nam này chỉ đứng sau Bắc Kinh, Thượng Hải, New Delhi và Dhaka. Mối đe doạ tiềm tàng này chắc chắn sẽ cản trở quá trình phát triển hơn nữa của các thành phố này. Cũng theo một nghiên cứu về các chỉ số môi trường ổn định do Trường Đại học Yale (Mỹ) thực hiện, Việt Nam đứng thứ hạng thấp nhất trong số 8 nước Đông Nam Á.


Clich here to download

Sử dụng GAĐT trong tiết dạy học theo PP mới

SỬ DỤNG GIÁO ÁN ĐIỆN TỬ TRONG TIẾT DẠY HỌC THEO PHƯƠNG PHÁP MỚI

  1. I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI:

Công nghệ thông tin bắt đầu được sử dụng ở Hoa Kỳ vào năm 1995, sau đó bắt đầu được phổ biến rộng rãi trên toàn thế giới. Các giáo viên của nhiều trường của các nước có nền giáo dục tiên tiến từ lâu đã sử dụng những chức năng của công nghệ thông tin vào trong giảng dạy.

Xuất phát từ tình hình thực tế đất nước đang trên đà phát triển khoa học công nghệ và kỹ thuật muốn công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước thì không thể thiếu việc nhanh chóng tiếp thu những thành tựu khoa học công nghệ hiện đại của thế giới. Do sự phát triển như vũ bảo của khoa học công nghệ thì cái mới hôm nay sẽ nhanh chóng trở thành cái cũ cái lạc hậu của ngày mai. Để thực hiện nhiệm vụ dạy học thì nhà trường phải luôn đổi mời về tư duy lẫn phương pháp dạy học để các em có thể tiếp thu bài một cách tự nhiên và nhẹ nhàng.

Thực hiện yêu cầu đổi mới về phương pháp giảng dạy, nhằm mục đích nâng cao chất lượng dạy và học trong nhà trường phổ thông nói chung và trường THCS nói riêng. Trong việc đổi mới phương pháp giảng dạy, thì sự khai thác triệt để sử dụng các thiết bị dạy học trong nhà trường là điều vô cùng cần thiết, giúp cho giáo viên thực sự là người tổ chức, hướng dẫn cho học sinh hoạt động học tập. Dưới sự tổ chức, hướng dẫn của giáo viên, học sinh tự quan sát; hoạt động bằng tư duy; bằng thao tác dưới hình thức cá nhân hoặc nhóm nhỏ để tự tìm ra kiến thức mình cần tiếp thu trong tiết học.

Bên cạnh việc sử dụng các thiết bị dạy học, việc khai thác và ứng dụng các phương tiện dạy học hiện đại trong dạy và học lại càng cần thiết hơn vì nó giúp cho giáo viên tiến gần tới phương pháp dạy học tiên tiến trên thế giới.

Vì vậy, bên cạnh sự thay đổi mới của sách giáo khoa , phương pháp dạy học, thiết bị dạy học giúp cho học sinh được rèn luyện, phát triển tư duy, tương lai được rèn luyện thành con người năng động; sáng tạo, phát triển toàn diện và đáp ứng được yêu cầu ngày càng phát triển của xã hội.

Với sự suy nghĩ trên tổ chúng tôi đã tìm tòi, học hỏi và áp dụng vào giảng dạy bằng việc ứng dụng các phương tiện dạy học hiện đại: Đó là soạn bài và dạy theo công nghệ thông tin để tiết học đạt chất lượng cao.

Hiện nay với phương pháp dạy học: tăng cường hoạt động tích cực của học sinh, còn giáo viên là người tổ chức, hướng dẫn học tập, giúp học sinh đạt được mục tiêu của từng bài học cũng như cả chương trình.

Vì vậy, để thực hiện chương trình và tạo sự hứng thú cho học sinh nên tổ chúng tôi đã chọn đề tài “sử dụng giáo án điện tử trong tiết dạy học theo phương pháp mới

Dạy tiết thực hành sinh học 9

Lời nói đầu

Dạy học sinh học ở trường THCS là một  vấn đề  có ý nghĩa và tầm quan trọng  rất lớn  đối với nghề nghiệp và tương lai của mỗi người và toàn xã hội.

Là người thấy ai cũng muốn mình được mọi người tôn vinh, kính trọng, ai cũng muốn mình là niềm tin là chỗ dựa vững chắc cho học sinh (HS) của mình, ai cũng muốn học sinh đạt được kết quả cao, vận dụng tốt kiến thức của bộ môn mình giảng dạy, vận dụng tốt lý thuyết vào các bài thực hành và thực tiễn cuộc sống.

Đặc biệt đối với môn sinh học – Môn khoa học thực nghiệm, một khoa học mở, luôn luôn mới và rất trừu tượng. Mỗi một tiết học, một kiểu bài lên lớp đòi hỏi phải có những phương pháp khác nhau, phù hợp với mục tiêu, yêu cầu của bài. Làm sao để phát huy được tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh.

Đặc biệt hơn nữa là “bài thực hành” trong chương trình sinh học là một vấn đề rất khó, để dạy thành công một bài thực hành đòi hỏi người giáo viên phải tìm tòi, nghiên cứu phương pháp phù hợp và qua thử nghiệm mới có thể thành công. Tuy nhiên khả năng thành công của mỗi tiết dạy còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố.

Qua thực tế giảng dạy môn sinh học 9 tôi xin ghi lại một vài nét có thể coi là sáng kiến, kinh nghiệm để bạn bè, đồng nghiệp cùng tham khảo và đóng góp ý kiến để một tiết thực hành thành công theo mong muốn.

Đích cuối cùng của chúng ta là làm thế nào để học sinh  nhận thức và vận dụng tốt kiến thức vào thực hành và thực tế cuộc sống.

Tôi xin ghi nhận và trân thành cảm ơn những ý kiến xây dựng và đóng góp của các bạn.

Attachments:
FileGhi chúFile size
Download this file (898_SKKN day tiet thuc hanh Sinh 9.doc)Download 57 Kb

Bài 49: cơ quan phân tích thị giác (sinh học lớp 8)

Sử dụng power point thiết kế bài 49: cơ quan phân tích thị giác  (sinh học lớp 8)

I.Nhận thức cũ - tình trạng cũ.

Định hướng đổi mới PPDH hiện nay là tích cực hoá hoạt động học tập của học sinh, khơi dậy và phát triển năng lực tự học, nhằm hình thành cho học sinh tư duy độc lập, tích cực sáng tạo, nâng cao năng lực  phát hiện và giải quyết vấn đề, rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào hoạt động thực tiễn, tác động đến tình cảm đem lại niềm tin, hứng thú học tập cho học sinh. Trong thời kì bùng nổ của Công nghệ thông tin (CNTT) chúng ta nhất thiết phải cải cách phương pháp dạy học theo hướng vận dụng CNTT và các trang thiết bị dạy học hiện đại phát huy mạnh mẽ tư duy sáng tạo, kỹ năng thực hành và hứng thú học tập của học sinh để nâng cao chất lượng dạy học.

Trong những năm vừa qua, khả năng ứng dụng CNTT vào công tác giảng dạy của giáo viên THCS đã đạt nhiều kết quả khả quan. Tuy nhiên qua thăm lớp dự giờ của đồng nghiệp tôi nhận thấy vẫn còn có những hạn chế sau:

-  Phần lớn tâm lý giáo viên ngại khó,  tuy rất muốn dạy học bằng phương tiện máy chiếu nhưng  lại chưa biết hoặc mới biết rất ít về vi tính nên không muốn thiết kế bài giảng điện tử,  giáo viên mới chỉ sử dụng máy chiếu để trình chiếu tranh ảnh hoặc thay bảng phụ chép đề  bài  trong qúa trình giảng dạy trên lớp.

- Về phía nhà trường, do điều kiện  kinh tế còn khó khăn và do chưa thấy hết được tác dụng của  việc ứng dụng CNTT nên chưa đầu tư thiết bị máy chiếu phục vụ cho việc giảng dạy, số trường THCS có máy chiếu trong huyện cũng như trong tỉnh  có thể  nói là rất ít.

-  Một số bài giảng điện tử còn mang tính chất trình diễn kiến thức, gần như là một “bảng đen” được viết sẵn tất cả nội dung dạy học lên đó.

-  Cách bố cục mỗi trang trình diễn chưa hợp lí về cỡ chữ, màu chữ, màu nền, tranh ảnh ...

- Còn lạm dụng các hiệu ứng hiển thị gây mất tập trung của học sinh vào nội dung bài giảng.

- Diễn giải nhanh quá, khi đưa ra các tình huống trên máy chiếu không đủ thời gian cho học sinh suy nghĩ.

-  Nhưng điều quan trọng nhất là giáo viên chú ý nhiều đến cách trình chiếu, cách chọn hiệu ứng mà không đầu tư vào kiến thức của bài, các kiến thức thường rập khuôn theo sách giáo khoa nên kết quả thu được sau tiết học thường không cao.

Vậy nguyên nhân của những tình trạng trên là do đâu?

Trước hết là do quan điểm chưa đúng về việc áp dụng CNTT trong giảng dạy, cho rằng dạy bằng giáo án điện tử không phát huy được trí lực của học sinh, không truyền tải hết được những ý tưởng của giáo viên....; một số giáo viên  chưa thực sự đầu tư vào tiết dạy, cho rằng dạy học bằng đèn chiếu là hấp dẫn được học sinh, thực tế học sinh cũng háo hức những tiết học đầu tiên bằng máy chiếu như “trẻ con miền núi lần đầu được trông thấy ô tô”, nhưng nếu tiết dạy đó chưa đầu tư vào nội dung thì học sinh cũng sẽ chóng nhàm chán vì  không hiểu bài và không kịp ghi những ý chính của bài do giáo viên trình diễn quá nhanh .

Thứ hai, do giáo viên vẫn chưa nắm bắt được tinh thần của sách giáo khoa, chưa xác định được trọng tâm của bài, còn lệ thuộc nhiều vào sách thiết kế có sẵn, thường đặt những câu hỏi chung chung thiên về tái hiện kiến thức, không có câu hỏi thực sự kích thích tư duy độc lập của học sinh. Nhìn chung giáo viên không chủ động trong giờ dạy mà chăm chăm trình chiếu những gì mình  đã chuẩn bị sẵn.

Thứ  ba là chưa có sự đầu tư thoả đáng về  việc mua sắm thiết bị, tổ chức học vi tính cho giáo viên do đó “cái khó bó cái khôn”, nhiều giáo viên cũng muốn sử dụng các phương tiện để ứng dụng CNTT nhưng đành chịu vì nhà trường không có máy chiếu. Từ những hạn chế trên, tôi mạnh dạn đưa ra một số đề xuất sau:

Attachments:
FileGhi chúFile size
Download this file (897_Sang kien kinh nghiem_ Sinh hoc 8 - LE HOA - Dien Ky.doc)Download 1634 Kb

Làm bài tập TNKQ phần ôn tạp chương III SGK hình học 10

Một số giải pháp cho học sinh khi làm bài tập TNKQ phần ôn tạp chương III SGK hình học 10 ban cơ bản.

 I. Lời nói đầu :

 Hiện nay việc giải bài tập TNKQ  đối với học sinh THPT là một vấn đề khó khăn. Đặc biệt là đối với học sinh khối 10.

Bản thân khi đuợc nhận dạy lớp 10A13 tôi nhận thấy những giờ ôn tập, luyện tập TNKQ, học sinh thường long tong hoặc giải rất lâu, thậm chí có những học sinh chọn đáp án một cách tuỳ ý.

Trong khi đó xu hướng của giáo dục hiện nay sẽ thi TNKQ đối với nhiều môn học. Vì vậy thiết nghĩ nhiệm vụ của mỗi giáo viên khi dạy cần giúp học sinh làm bài tập TNKQ đúng và nhanh nhất. Đó là cả một vấn đề khó, tôi mạnh dạn đưa ra ý kiến nhỏ với đề tài: Một số giải pháp cho học sinh khi làm bài  tập TNKQ (phần ôn tập chương III hình học 10 ban cơ bản).

Phần I: Đặt vấn đề.

Phần II: Giải quyết vấn đề.

Phần III: Kết luận.

Phần IV: Tài liệu tham khảo.

Dù cố gắng nhưng không thể tránh được những thiếu xót. Tôi xin nhận được sự góp ý của các bạn đồng nghiệp để lần sau làm tốt hơn.

 

 

 

 

I - Đặt vấn đề :

 

1 – Lý do chọn đề tài:

+ Chương trình lớp 10 cải cách SGK đẫ đưa phần mặt phẳng toạ độ vào, học sinh lần đầu tiếp cận với những khái niệm mới nên rất dễ nhầm lẫn.

+ Trong đó bài tập TNKQ là dạng mới đối với học sinh và ngay ca giáo viên cũng gạp không ít những khó khăn khi hướng dẫn học sinh giải toán dạng này.

+ Học sinh chưa được rèn luyện nhiều với thời gian ít ỏiở trên lớp, học sinh chỉ đựơc tiếp cận với vài câu TNKQ trong quá trình dạy lý thuyết và làm bài tập ôn tập cuối chương.

+ Đa số học sinh không hiểu bản chất câu hỏi mà chọn đáp án một cách ngẫu nhiên.

+ Kiến thức ở dạng bài tập TNKQ là bao quát hầu hết chương trình học nên khi giảI bài tập TNKQ học sinh thường không hứng thú lắm. Vậy làm thế nào để học sinh cảm thấy không còn “sợ” khi học bài tập TNKQ.

Với suy nghĩ trăn trở đó tôI quyết định chọn đề tài Một số giải pháp cho học sinh khi làm bài  tập TNKQ (phần ôn tập chương III hình học 10 ban cơ bản).

Góp phần vào việc dạy và học dạng bài tập TNKQ đạt kết quả cao hơn.

 

2- phạm vi nghiên cứu

Trong khuông khổ bài viết này tôi khai thác tri thức toán học trong việc giải bài tập TNKQ phần ôn tập chương III – SGK hình học 10 – ban cơ bản.

Attachments:
FileGhi chúFile size
Download this file (896_Sang kien kinh nghiem_ Mot so giai phap cho hoc sinh lam bai tap trac nghiem)Download 116 Kb

Dạy học giải quyết vấn đề

A. đặt vấn đề

1 . Lời nói đầu:

Với tư tưởng dạy học sinh không chỉ dạy kiến thức cho các em, mà cần dạy cả phương pháp suy luận, khả năng vận dụng, khả năng kết nối các môn khoa học, hướng tư duy khái quát và cả sự phát minh khoa học.

 

Attachments:
FileGhi chúFile size
Download this file (895_Sang kien kinh nghiem_ Day hoc giai quyet van de.doc)Download 675 Kb

Một số kinh nghiệm giảng dạy phần di truyền học và chọn giống Lớp 9

Một số kinh nghiệm giảng dạy phần di truyền học và chọn giống Lớp 9

I. Đặt vấn đề:

Nhiều hiện tượng trong cuộc sống như di truyền tính trội N, di truyền trung gian, đột biến , tật bệnh di truyền bẩm sinh, sinh con trai , con gái…nhiều vấn đề trong chăn nuôi, trồng trọt như giống thuần chủng, thoái hoá giống, ưu thế lai … đều liên quan tới di truyền học .

Di truyền học là một lĩnh vực mũi nhọn của sinh học đang phát triển nhanh, phát huy tác dụng mạnh mẽ trong nhiều lĩnh vực sản xuất và đời sống . Học sinh tốt nghiệp THCS đa số đi vào cuộc sống sản xuất nông nghiệp, không thể không nắm được một số kiến thức cơ bản tối thiểu về lĩnh vực khoa học vừa hiện đại, vừa thực tiễn này .

Đây là kiến thức mới mẽ, tư duy trừu tượng cao vì vậy phải có phương pháp giảng dạy thích hợp mới phát huy tính chủ động sáng tạo trong học tập của các em được tốt .

Attachments:
FileGhi chúFile size
Download this file (894_Sang kien kinh nghiem giang day mon Sinh hoc.doc)Download 1510 Kb

Sử dụng dạy học giải quyết vấn đề để dạy các quy luật di truyền của Men Đen

Phần I

MỞ ĐẦU

  1. I. Đặt vấn đề:

Vấn đề đổi mới phương pháp dạy học ở các trường phổ thông để phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh nhằm đào tạo những người năng động và sáng tạo đã được đặt ra trong ngành giáo dục từ những năm 80. Việc phát huy tính tích cực của học sinh là một trong các phương hướng cải cách giáo dục triển khai ở các trường phổ thông từ những năm 1980.

Attachments:
FileGhi chúFile size
Download this file (893_PP day dinh luat MENDEN dat hieu qua.doc)Download 98 Kb

Xây dựng câu hỏi theo hướng phát huy năng lực tự học của học sinh khi dạy học bài 12, 13, 14, 16 - Sinh học 6 - THCS

Bài tập tốt nghiệp “Xây dựng câu hỏi theo hướng phát huy năng lực tự học của học sinh khi dạy học bài 12, 13, 14, 16 - Sinh học 6 - THCS” được hoàn thành dưới sự hướng dẫn nhiệt tình trực tiếp của thầy giáo PGS-TS Nguyễn Đức Thành , sự cộng tác nhiệt thành của các thầy cô giáo giảng dạy bộ môn sinh học trong huyện Kim Thành, các anh chị em sinh viên lớp đai học Sinh -KTNN khoá 2 Hải Dương và các đồng nghiệp khác.  Tác giả của bài tập xin chân thành cảm ơn thầy giáo PGS-TS Nguyễn Đức Thành , các thầy cô giáo giảng dạy bộ môn sinh học, các anh chị em sinh viên và các đồng nghiệp khác đã tạo điều kiện giúp đỡ.

 

Attachments:
FileGhi chúFile size
Download this file (892_PHUONG PHAP DAY HOC SINH HOC THCS.doc)Download 295 Kb

Trang 1 /2