Tuesday, Sep 02nd

Last update07:15:08 PM GMT

Thuviensinhhoc.com Chuyên đề

Chuyên đề Sinh học

Giới nấm và ứng dụng

Không có sắc tố quang hợp, dinh dưỡng kiểu hấp thụ bằng hoại sinh hay kí sinh, có sinh sản hữu tính và không có khả năng cố định nitơ phân tử.

Các hệ thống về sự phân chia sinh giới

Hệ thống phân loại Linnaeus cũng như các nhà phân loại đầu tiên cho đến các nhà tự nhiên học thời bấy giờ đều thống nhất phân chia thế giới sống thành hai giới:  thực vật và giới động vật.

Chiều hướng tiến hóa chung của sinh giới

chiều hướng tiến hóa chung của sinh giớiTừ một gốc chung, dưới tác dụng của các nhân tố tiến hóa, đặc biệt là của chọn lọc tự nhiên (CLTN), theo con đường phân li tính trạng, sinh giới đã tiến hóa theo những chiều hướng sau đây:

Các quần thể khác khu vực địa lý có thể phân hóa dẫn đến cách ly sinh sản hay không ?

Hình thành loài khác khuDiane Dodd, làm việc tại trường đại học Yale đã chia một quần thể ruồi giấm thành hai phần, một phần được nuôi trong môi trường tinh bột, và một phần được nuôi trong môi trường maltose.

Hình thành loài khác khu vực địa lí

Hình thành loài khác khu và hình thành loài cùng khuTrong hình thành loài khác khu vực địa lí, dòng gen bị gián đoạn khi một quần thể bị chia cắt thành các tiểu quần thể cách ly địa lí với nhau.Vậy các trở ngại địa lý phải lớn đến mức nào mới có thể thúc đẩy sự hình thành loài khác khu vực địa lý ?

Các trở ngại sinh sản - cách li sản

Các trở ngại sinh sản - cách li sinh sảnHai loài sống ở các nơi khác nhau trong cùng một khu vực có thể hiếm khi gặp nhau thậm chí không bao giờ gặp nhau ngay cả khi chúng không bị cách ly bởi các trở ngại địa lí như các dãy núi.

Quần thể là đơn vị tiến hóa cơ sở

quần thể là đơn vị tiến hóa cơ sởMỗi quần thể là một tổ chức cơ sở của loài, có lịch sử phát sinh và phát triển của nó. Mỗi quần thể gồm những cá thể khác nhau về kiểu gen. Giao phối tự do tạo ra những thể dị hợp có sức sống cao, có tiềm năng thích nghi với hoàn cảnh sống.

Tại sao chọn lọc tự nhiên lại không thể hình thành nên những sinh vật hoàn hảo

Chọn lọc tự nhiênMặc dù chọn lọc tự nhiên dẫn đến sự thích nghi nhưng có một số lý do khiến tại sao tự nhiên lại cho rất nhiều các ví dụ về các sinh vật không được "thiết kế" một cách lý tưởng về kiểu cách sống của chúng.

Vai trò chủ chốt của chọn lọc tự nhiên trong tiến hóa thích nghi

Vai trò chủ chốt của chọn lọc tự nhiênCó nhiều tính trạng của sinh vật thích nghi với môi trường đến mức thật ngạc nhiên. Ví dụ, khả năng thay đổi màu sắc nhanh chóng của con mực mai, giúp nó hòa trộn vào màu sắc của môi trường.

Quần thể đơn vị nhỏ nhất có thể tiến hóa

Quần thể đơn vị tiến hóa nhỏ nhấtMột quan niệm sai lầm phổ biến về tiến hóa là các cá thể sinh vật có thể tiến hóa. Đúng là chọn lọc tự nhiên  tác động lên các cá thể: Tổ hợp các đặc điểm của cá thể sinh vật ảnh hưởng đến sự sống sót của nó và sự thành đạt sinh sản tương đối si với các cá thể khác.

Quan niệm về thế giới sống của Đacuyn có gì là lý thuyết ?

Tiến hóaNguồn gốc các loài : "Có sự hùng vĩ trong quan điểm về thế giới sống này ... các dạng sống bất tận mới tuyệt đẹp làm sao và những dạng tuyệt vời nhất đã và đang được tiến hóa"

Chọn lọc nhân tạo, chọn tự nhiên và đặc điểm thích nghi

Chọn lọc nhân tạoĐacuyn đã đề xuất cơ chế chọn lọc tự nhiên, để giải thích kiểu cách tiến hóa mà chúng ta có thể quan sát thấy. Ông đã khéo léo và rất thận trọng đưa ra các lý lẽ để thuyết phục thậm chí cả những độc giả hoài nghi nhất.

Sự hoàn thiện và vận chuyển protein

Hoàn thiện và vận chuyển proteinQuá trình dịch mã đơn thuần thường là chưa đủ để có thể tạo nên một phân tử protein ở dạng hoạt động chức năng. Trong phần này, chúng ta sẽ đề cập đến những biến đổi của protein sau dịch mã và một số cơ chế vận chuyển protein tới đích trong tế bào, ở nơi mà chúng biểu hiện chức năng. 

Sự hình thành một chuỗi polypeptit

Kéo dài chuỗi polypeptitGiai đoạn khởi đầu dịch mã liên quan đến việc huy động các thành phần của phức hệ dịch mã, gồm: bản hiên mã mARN, một phân tử tARN vận chuyển axit amin đầu tiên của chuỗi polypeptit, và hai tiểu phần của ribosome.

Các ribosome - bộ máy tổng hợp protein

Ribosome - bộ máy tổng hợp proteinNhiều nghiên cứu gần đây ủng hộ cho giả thiết là chính rARN, chứ không phải protein, giữ vai trò trọng yếu trong cấu trúc và chức năng của ribosome. Các protein, chiếm phần lớn phần bao ngoài ribosome,

Cấu trúc và chức năng của ARN vận chuyển

Cấu trúc và chức năng của ARN vận chuyển Giống với mARN và các loại ARN khác trong tế bào, các phân tử ARN vận chuyển được phiên mã từ các mạch khuôn ADN. Ở sinh vật nhân thật, giống với mARN, tARN cũng được tổng hợp trong nhân tế bào rồi sau đó mới được vận chuyển ra tế bào chất và dùng cho quá trình dịch mã.

Các thành phần phân tử của dịch mã

Các thành phần phân tử của dịch mãTrong quá trình dịch mã, tế bào tiến hành “thông dịch” thông điệp di truyền trên phân tử mARN hoàn thiện thành chuỗi polypeptit tương ứng. Thông điệp di truyền là chuỗi các bộ ba nucleotit trên phân tử mARN

Gen phân mảnh và sự ghép nối ARN

Gen phân mảnh và sự ghép nối mARNMột giai đoạn đáng chú ý trong quá trình hoàn thiện mARN trong nhân của sinh vật nhân thật là việc loại bỏ đi một phần lớn các phân đoạn bên trong phân tử mARN tiền thân; một công việc giống như “cắt - dán”

Trang 1 /64